VĂN TẾ VONG LINH
Hôm qua đọc bài viết của cô Vũ Kim Hạnh về cảm xúc khi đến đền thờ cụ Đồ Chiểu ở Ba Tri Bến Tre, nhắc nhớ "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" được biên kịch Nguyễn Thị Minh Ngọc trích dẫn trong vở kịch "Tiên Nga" lan toả cảm xúc đến các khán giả tinh thần và tình yêu đất nước của cụ Đồ Chiểu, mà cho đến nay lớp trẻ ở Bến Tre đang tiếp nối.
Từ lúc mình được cụ Nguyễn Đình Tư say sưa nói về VĂN TẾ và sự tiếc nuối của cụ khi thể loại văn học đặc sắc của Việt Nam bị lớp bụi thời gian phủ mờ thì mới để ý chút chút và dành thời gian tìm hiểu mới hay thầy chủ nhiệm cũ – thầy Nguyễn Đông Triều, nay là trưởng bộ môn Hán Nôm đã làm luận án tiến sĩ đề tài VĂN TẾ, đây là công trình nghiên cứu hiếm hoi và đầy đủ nhứt cho đến nay.
Trích vài đoạn ngắn trong luận án của thầy Nguyễn Đông Triều * chia sẻ với các cô chú anh chị “ôn cố tri tân” về VĂN TẾ
VĂN TẾ là loại văn đọc trong lễ tế gắn liền nghi thức cúng tế thần linh và vong linh, trong đó văn tế vong linh có giá trị cao về phương diện văn học, nghệ thuật
“văn tế được sáng tác nhằm vào hai đối tượng: người sống và người chết chi phối tâm lý sáng tạo của nhà văn thời trung đại”, tạo ra một “không gian nghệ thuật của riêng văn tế mà các thể loại văn học khác tuyệt nhiên không có” (1)
“Văn tế đạt được nhiều thành tựu to lớn nhất vào những năm cuối thế kỷ XIX vì có sự chuyển biến của lịch sử, sự thay đổi thời cuộc, sự tham gia của các sĩ phu yêu nước cùng với sự thay đổi đề tài, chủ đề và cách vận dụng các thể văn có nhiều khả năng đi vào quần chúng. Vị trí Nguyễn Đình Chiểu và những bài văn tế của ông trong văn học yêu nước.(2)
• nội dung chính của văn tế: khẳng định các giá trị đạo đức, luân lý chuẩn mực; ca ngợi tinh thần yêu nước, tinh thần tôn quân, tinh thần vì nhân dân; thể hiện tinh thần nhân đạo; thể hiện ý nghĩa trào tiếu sâu sắc…
• đặc điểm nghệ thuật của văn tế: đa dạng về thể văn; đặc sắc về ngôn ngữ, giọng điệu; vận dụng điển cố vừa theo kiểu truyền thống vừa linh hoạt, có vận dụng điển cố từ lịch sử và văn học cổ điển Việt Nam; vận dụng một số thủ pháp nhằm làm tăng khả năng biểu đạt: tập Kiều và lẩy Kiều, các kiểu điệp, câu đối lập, từ ngữ và cú thức mẫu… Qua đó cho thấy hình thức nghệ thuật văn tế có nhiều điểm đặc sắc, góp phần nâng cao sức hấp dẫn và giá trị nội dung của thể loại này.
Viết văn tế ai điếu bày tỏ tình cảm tiếc thương, tưởng nhớ người chết và an ủi người thân của họ Tuy bám sát sự thật về cuộc đời và ngôn hành của nhân vật nhưng ngôn từ được trau chuốt, chắt lọc, viết theo các thể văn nghệ thuật, nên có giá trị thẩm mỹ cao. Lưu Hiệp cũng nói rõ nguyên nhân của việc này là “BÀY TỎ TRƯỚC NƠI ĐÔNG NGƯỜI, NGÔN TỪ PHẢI HAY PHẢI ĐẸP”
• tế người trước khi chết: Văn tế Phan Bội Châu của Huỳnh Thúc Kháng;
• tế người cảm tử trước khi lên đường giữ nước: Văn tế khao lề thế lính Hoàng Sa;
• tế di tích: Yết Hải Quận công từ tế văn (Văn tế đến trình diện ở đền thờ Hải Quận công) của Nguyễn Thuật;
• tế địa danh: Văn tế Đống Đa;
• tế sự vật: Văn tế bầu rượu;
• tế loài vật: Văn tế con cóc;
• tế khánh chúc: Hạ thọ chúc văn (Văn khấn mừng thọ);
• văn tế trào tiếu: Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ của Nguyễn Du
• Một trường hợp đặc biệt của văn tế ai điếu : Văn tế cây trôi của Nguyễn Hữu Xước (1825-1886)
• văn tế viết hộ: bài Văn tế Bá-Đa-Lộc do Đặng Đức Siêu viết hộ vua Gia Long, Văn tế chồng do Trần Tế Xương viết hộ vợ ông Phạm Tuấn Phú tế chồng.
Cách vận dụng ngôn ngữ một cách linh hoạt, sáng tạo đều góp phần tạo nên vẻ đặc biệt của văn tế Việt Nam và góp phần làm giàu thêm ngôn ngữ tiếng Việt.
Thể loại văn tế trong văn học trung đại Việt Nam có những điểm đặc thù giúp nó không bị phai mờ giá trị theo thời gian. Cũng nhờ bản sắc riêng này mà văn tế đã tạo nên một dấu ấn, không thể lẫn lộn với các thể loại văn học khác và góp phần tạo nên một bộ phận văn học đa giọng điệu, đa sắc thái.
* Luận án: THỂ LOẠI VĂN TẾ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Nghiên cứu sinh: NGUYỄN ĐÔNG TRIỀU
TP. Hồ Chí Minh, năm 2016
(1) trích “Đặc trưng thể loại của văn tế”, Ngô Gia Võ, Tạp chí Hán Nôm, số 1 (34), 1998
(2) trích “Đặc trưng hệ thống thể loại của văn chương yêu nước nửa sau thế kỷ XIX ở Việt Nam” (Nguyễn Văn Thế, Nghiên cứu Văn học, số 1, 2008)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét