DỊCH
LÝ-Y LÝ SÁCH NỀN TẢNG ĐỂ HIỂU Y HỌC CỔ TRUYỀN
Vào
sáng cuối tuần 15/10/2023, tại thư quán Khai Tâm, nhóm Vầng trăng tri thức
đã có buổi mạn đàm về tác phẩm Dịch lý Y lý của cố giáo sư Huỳnh Minh Đức.
Giáo
sư Huỳnh Minh Đức sinh năm 1933, ông cố là người Hẹ từ Trung Quốc sang Việt Nam
sinh sống. Từ nhỏ, giáo sư được gia đình cho học chữ Hán để biết ngôn ngữ quê
hương, lớn lên ông vào trường trung học chương trình tiếng Pháp và đã đậu Tú
Tài toàn phần văn chương cổ ngữ. Năm 1971 ông trúng tuyển hạng ưu kỳ thi chứng
chỉ văn bằng cao học văn chương trung hoa đại học Văn Khoa Sài Gòn. Ông từng nhận
Giải thưởng dịch thuật, tác phẩm dịch “Trung quốc triết học sử” của Hồ Thích.
Các
gia đình gốc Hoa con cháu ít khi học lên cao, riêng giáo sư Huỳnh Minh Đức bởi
say mê nghiên cứu và có hoài bão cống hiến cộng đồng, do đó, ông vừa đi dạy vừa
dịch rất nhiều tác phẩm quan trọng để người Việt có thể tiếp cận những kiến thức
tinh hoa của khu vực Đông Á
Đến
tham dự buổi mạn đàm có thầy Huỳnh Minh Trí, con trai giáo sư Huỳnh Minh Đức.
Thầy Trí bồi hồi kể lời Cha dặn từ nhỏ, con ơi, hễ ai mà học giỏi chữ Hán là họ
có chìa khoá mở kho tàng Nho Y Lý Số. Cha khuyên các con nên học chữ Hán để hiểu
biết về Đông Y để chữa bệnh cứu người, nếu như không rành chữ Hán không thể hiểu
sâu sắc về Đông Y. Quãng thời gian soạn bộ sách này hoàn cảnh thiếu thốn khó
khăn, thầy Huỳnh Minh Đức vẫn kiên nhẫn cố gắng gõ trên máy đánh chữ cũ kỹ, những
đoạn có chữ Hán thì chừa chỗ trống sau viết tay điền vào, mà lỡ viết sai một chữ
là phải bỏ cả tờ giấy.
Giáo
sư Huỳnh Minh Đức gửi gắm tâm sự: “Y học thế giới có nhiệm vụ cao cả là cứu con
người ra khỏi bệnh tật. Trong đó, nền Y học Đông phương có sự đóng góp rất quan
trọng.
Nền
y học Đông phương dựa vào lý luận kinh điểm có hàng mấy ngàn năm trước. Con đường
này đã được vạch ra từ hơn 2.000 năm trước đây ở Trung Quốc mà Kinh Dịch là quyển
sách đứng đầu trong các tác phẩm nói trên.
Nền
Y học Đông phương lấy dưỡng sinh, lấy trị vị bệnh làm sở trường. Trong toàn bộ
công trình biên khảo và dịch thuật của tôi về Y học, về Y đạo Đông phương cũng
như trực tiếp qua cuốn Dịch lý và Y lý này, chúng ta cố gắng tìm hiểu rõ hơn nền
tảng của Y lý Đông Phương.”
Diễn giả: Dược
sĩ Nguyễn Thiện Đức xuất thân trong gia đình có truyền thống Đông Y, anh được dạy
chữ Hán từ nhỏ để đọc cách bài thuốc, tài liệu y học cổ truyền, anh Đức bày tỏ
sự ngưỡng mộ tác phẩm Dịch lý-Y lý giáo sư Huỳnh Minh Đức:
“Bản
thảo hoàn thành ngày 9/1/1988, là công trình giáo sư Huỳnh Minh Đức đóng góp
vào tư liệu lý thuyết cơ bản của Đông Y. Trong thập niên 1980 đất nước còn nhiều
khó khăn mà ông đã đọc hơn 70 tác phẩm Hán văn về Đông Y để soạn thảo sách Dịch
lý-Y lý, cung cấp nhập môn nền tảng lý thuyết cơ bản vững vàng cho những người
muốn học nghề Y học cổ truyền và cho cả những ai quan tâm đến việc chăm sóc sức
khoẻ bản thân, gia đình.
Dù
chỉ là nhà nghiên cứu đơn thuần, chẳng hành nghề lương y, nội dung sách được
ông viết cẩn thận theo đúng hiểu biết của người có kiến thức chuyên môn Đông Y.”
Trong lịch sử, Đông Y
phát triển thành hệ thống chữa bệnh chủ động cách nay khoảng 5000 năm, tuy
nhiên, có giai đoạn chững lại và dậm chân cho đến nay. Riêng ở Việt Nam lý luận
Đông Y vẫn còn sử dụng các tài liệu từ các cụ Tuệ Tĩnh (1330-1400), cụ Hải thượng
Lãn ông (1720-1791), cụ Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888). Năm 1878, Thống đốc Nam
Kỳ Lafont ra Nghị định chánh thức sử dụng chữ quốc ngữ, năm 1919, vua Khải Định
tổ chức khoa thi Hội cuối cùng, từ đó, chữ Hán không còn sử dụng rộng rãi, người
có khả năng đọc hiểu chữ Hán Nôm ngày càng ít ỏi, còn người hành nghề Đông Y hiếm
ai đọc được chữ Hán. Bởi thế mới thấy trân quý sự nỗ lực của giáo sư Huỳnh Minh
Đức khi ông bỏ công sức soạn thảo, dịch thuật các tác phẩm chữ Hán sang tiếng
Việt để góp phần tư liệu lý thuyết nền tảng cho ngành Y học cổ truyền Việt Nam.
Bộ
sách Y lý Dịch lý có 506 trang, trong đó 2/3 nội dung gồm 367 trang giáo sư Huỳnh
Minh Đức phân tích cặn kẽ, tỉ mỉ lý thuyết Thái Cực sinh Lưỡng Nghi bởi ông nhận
thấy, hiểu rõ lý lẽ của Lưỡng Nghi là nắm được hơn 60% lý thuyết của Y học cổ
truyền.
Dược
sĩ Nguyễn Thiện Đức giải thích, chữ Dịch chữ Hán viết 易, nằm trên là chữ Nhật 日dưới là chữ nguyệt 月 nằm ngang vì dọc là tung ngang là hoành có nghĩa là Dịch quán triệt cả
chiều dọc không gian và chiều ngang không gian. Sự biến thiên gọi là Dịch, từ
đó, Đông y dựa vào nền tảng Kinh Dịch để tìm cách điều hoà cân bằng cơ thể. Những
chú giải kỹ càng trong cuốn Dịch lý Y lý giúp cho người hành nghề y học cổ truyền
hiểu sâu hơn sự biến hoá của Kinh dịch áp dụng Đông Y.
Trong
sách, giáo sư trích dẫn nhiều từ sách của những danh y nổi tiếng Việt Nam Nguyễn
Trãi, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, Nguyễn Đình Chiểu bởi giáo sư hy vọng dựa
vào các công trình nghiên cứu của ông, những người theo nghề Đông Y sẽ nối tiếp
sự nghiệp tiền nhân soạn thêm nhiều tác phẩm chất lượng hơn để phát triển bộ
môn Y học cổ truyền dân tộc.
Qua
nội dung sách chứng tỏ, sau 2000 năm giá trị các lý thuyết trong sách Đông Y từ
thời Hán vẫn còn tồn tại đúng thực tế:
Kinh
dịch là quyển sách diễn giải lại quá trình của vạn vật hữu hình từ Thái Cực, Lưỡng
nghi, … Thái cực cũng chính là Lưỡng nghi, Tứ Tượng…
Thái
Cực sinh Lưỡng nghi để rồi sinh ra vạn vật, đây chính là tinh khí của Thái cực,
là nguồn sinh ra vạn vật. Kinh dịch đã phát hoạ ra một cách đại cương có tính
cách chỉ đạo cho sự giải thích sau này ở Hoàng Đế nội kinh.
Trong
Chương 4 Hệ từ truyện viết
Tinh
khí vi vật
= Tinh khí tạo nên sự vật
Câu
này tuy ngắn nhưng ý nghĩa rất quan trọng. Có thể nói rằng đây là vấn đề then
chốt trong quá trình khí hoá, bao trùm về vũ trụ hữu hình. Sách Hoàng Đế nội
kinh lý luận rất rõ về tinh và khí này (trang 92)
Đối
với Y học Đông phương, Âm dương, ngũ hành, can chi… đóng vai trò then chốt
trong lý luận. Nó là điều kiện ắt có để hiểu được, tính được bài toán tương ứng
giữa sự thay đổi của vũ trụ, khí huyết trong con người, từ đó tìm ra cách giải
quyết sự bế tắc giữa hai bên
Khí
hoá thái cực hữu hình qua sách Y tông tâm lĩnh của Hải Thượng Lãn Ông:
…thân
thể con người là một vũ trụ thu nhỏ lại, bẩm thụ được toàn thể Âm Dương, có đủ
sinh hoá của Ngũ hành. Như thế há không có một điểm Thái cực đã nghiễm nhiên được
thành lập từ trước, để làm căn bản cho sự phát sinh hay sao?
Khí
hoá thái cực hữu hình qua sách Ngư tiều y thuật vấn đáp của Nguyễn Đình Chiểu
“Con
người ta bẩm thụ khí trung hoá của Trời Đất mà sinh ra. Nhưng do ăn uống, làm lụng
không biết tự giữ cho điều độ, cho nên những phần độc hại của Âm Dương mới nhân
những chỗ sơ sở ấy trở thành quân giặc làm hại”
Cũng
như các nhà Y học khác, Nguyễn Đình Chiểu cho rằng Thái cực, Ngũ hành là những
dạng khí hoá tạo nên con người.
Nguyễn
Đình Chiểu viết
Có
“nguyên đạo thống” phân minh
Có
nhà y quán, nhóm kinh sách truyền.
Sự
hình thành và tiến hoá của thân thể con người, tất cả đều luôn luôn có sự quan
hệ mật thiết với Trời Đất. Vì thế mà trong cuộc sống bảo sinh, con người phải
luôn luôn hợp với Thiên Địa.
Tổ
vấn 23 nhập chung Ngũ tẩu và Ngũ tài lại:
“Tân
chạy theo đường khí. Khí bệnh thì không nên ăn nhiều vị tân”
Trương
Chí Thông chú: “Phế chủ khí. Tân nhập Phế sẽ chạy theo con đường khí. Nếu khí bệnh
mà ăn nhiều vị (tân) sẽ làm cho tân và khí bị thương.”
“…
Ngũ vị nhập vào miệng. Bên trong nó dưỡng Ngũ tạng, bên noài nó làm nhu nhuận
cho Hình thân. Khi bệnh, người ta thích ăn nhiều (một vị nào đó), nên ăn ít lại”
Tân
là vị cay, khí bệnh là bệnh phổi, trong thực tế khi bị ho, ăn cay nhiều sẽ tăng
ho
Hàm
chạy theo huyết. Huyết bệnh không nên ăn nhiều vị hàm. Hàm tức là vị mặn, khi
huyết áp cao thì đừng ăn mặn.
Như
chúng ta đã biết, Âm Dương giao cảm hình thành Thiên-Nhân-Địa. Con người từ tạng
phủ, kinh lạc đều bẩm thụ Thiên địa khí và sự sống có nghĩa là một cách tiếp nối
với sự vận hành toàn diện đó.
Sự
cảm của Thiên Địa hợp rồi ly, ly rồi hợp. Nhưng sự ly hợp không đi quá “chiếc
vòng ngọc” tức là “chu một vòng rồi trở lại” tức là xuất hay nhập, nội hay ngoại
thương hay hạ không đi sai quá cái Đạo của mình. Một trường hợp nào đó, chu kỳ
bị chậm lại hay đi nhanh hơn thì được xem như là đã bị bệnh. Trị bệnh là một
cách nào đó nhằm tái lập cái chu kỳ trật tự đó mà thôi.
Nguyễn
Trãi trong bài Bình Ngô đại cáo đã nhấn mạnh:
Kiền
Khôn ký Bĩ nhi phục Thái, nhật nguyệt ký hối nhi phục minh.
Quẻ
Kiền và quẻ Khôn có khi tạo thành quẻ Bỉ thì rồi lại có lúc thành quẻ Thái. Mặt
trời mặt trăng có lúc tối, rồi lại có lúc sáng ra.
Nói
cho cùng, sự ly hợp rồi hợp ly sở dĩ vận hành một cách tươi đẹp như “chiếc vòng
ngọc” là nhờ vào luật “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”
Như
vậy, trong chiếc vòng ngọc ấy, ta tìm được một cái lý quan trọng nhất trong Y học
Đông phương, nhờ vào “Đồng thanh
tương ứng, đồng khí tương cầu” mà khí huyết trong con người vận hành, cũng
như cây cỏ… trong thiên nhiên, có thể đồng quy theo từng kinh mạch của từng
hành trong Ngũ hành… Con đường vận hành này theo khắp hướng: Trên dưới, trong
ngoài, không ra ngoài “chiếc vòng ngọc” ấy
Góp
phần trong buổi mạn đàm, nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn chia sẻ: “Theo ông Đông y
và Tây y đều có chỗ hay chỗ giỏi riêng, điều chúng ta nên nhớ là hễ có bệnh
không khoẻ trong người thì nhanh chóng tìm cách chữa trị. Ai có kiến thức Y học
có thể tự chữa, hoặc tìm đến thầy thuốc thay vì cầu khấn xin hết bệnh. Theo như
ghi chép trong Phật giáo Nguyên thủy, Đức Phật có một đệ tử cư sĩ Jivaka là thầy
thuốc giỏi, mỗi ngày ông đến viếng thăm Đức Phật hai lần và chăm sóc sức khỏe
Ngài và chữa bệnh cho các chư Tăng.
Chuyện
Đông y ở Việt Nam thời phong kiếm ít phát triển một phần là do quy trình khám
chữa bệnh nghiêm ngặt, hễ Vua nghe tin trong dân gian có thầy thuốc danh tiếng
là vời về kinh để tham gia điều trị bệnh cho Vua và các phi tần, hoàng tử, công
chúa trong cung.
Như
danh y Lê Hữu Trác khi ở Nghệ An ông đã vang danh cả nước tài chữa bệnh nên năm
1782, chúa Trịnh Sâm vời ông ra kinh đô Thăng Long chẩn trị cho thế tử Trịnh
Cán. Những ngự y trong phủ vì ghen tị với ông lang nhà quê không chịu sắc thuốc
theo đơn của ông nên thế tử Trịnh Cán mãi không khỏi bệnh. Do đó, không thể thực
hiện điều ông mong mỏi là được Chúa in bộ sách Y tông tâm lĩnh mà ông dành cả đời
tâm huyết biên soạn
Theo
tư liệu châu bản triều Nguyễn, quy trình khám bệnh và dâng thuốc cho nhà vua rất
nghiêm ngặt. Đầu tiên, quan nội giám truyền chỉ cho Thái y viện biết là vua
đang mắc bệnh, Thái y viện họp lại và cử người vào ngự chẩn. Ngự chẩn xong phải
giải thích cho vua biết rồi trở về viện họp nghị bàn luận trị. Sau khi “hội chẩn”,
Thái y viện làm bản tấu dâng tiến ngự dược lên cho nhà vua xem. Nhà vua sẽ châu
phê với các nội dung là: Dĩ lãm (đã xem), hoặc Tri đạo liễu (đã biết rồi).
Thang
thuốc sắc chia 2 chén, ngự y được chọn bài thuốc dâng vua sẽ uống trước mặt các
quan đại thần rồi chén còn lại mới đưa vào Vua uống. Nếu vua trở bệnh không
lành thì ông đầu ông ngự y giam hoặc nếu lỡ ông vua băng hà thì tất cả ngự y
gông đầu tống giam, chờ xét xử. Do đó, chuyện chữa bệnh ngày xưa rất căng thẳng,
các quan ngự y luôn lo sợ chưa biết giữ mạng thế nào. Trong bản tấu thường mở đầu
với các cụm từ: “Chúng thần ở Thái y viện cúi đầu sát đất, trăm lạy, cẩn tấu,
dâng lên đấng bề trên…”.
Bởi
hoàn cảnh như thế nên các thầy thuốc cũng bị hạn chế khả năng phát triển tài
năng y học.”
Đông Y không dựa vào giải phẫu học như Tây y, do đó, để hiểu
được khả năng chữa bệnh ưu việt của bộ môn y học cổ truyền này cũng như giảm bớt
những lang băm làm ảnh hưởng danh tiếng của Đông Y, bộ sách Dịch lý Y lý giáo
sư Huỳnh Minh Đức soạn thảo nội dung đặt tiêu chí tinh thần nghiên cứu khoa học
khách quan để giúp độc giả Việt Nam tiếp cận lý luận tổng quan chính yếu của
Đông Y, gạt qua những tranh cãi, hiểu sai về bộ môn này, nâng cao tri thức học
thuật chứng minh qua thực tế hiệu quả chữa trị trên nền tảng lý thuyết vững chắc.
Bài & ảnh: Lê Ngọc Hân
MỘT
SỐ TÁC PHẨM CỦA GIÁO SƯ HUỲNH MINH ĐỨC
Trung
Quốc triết học sử (dịch của Hồ Thích, Khai Trí, 1970)
Hồ
Thích và cuộc vận động tân văn học (Trung tâm học liệu SG, 1972)
Văn học
sử Trung Quốc (dịch của Dịch Quân Tả, NXB Trẻ, 1992)
Từ Ngọ
Môn đến Thái Hoà điện (NXB Trẻ, 1994)
Cẩm
nang châm cứu thực hành: Y học nhập môn (Thái Ất Thần Châm Cứu, dịch)
Dịch lý
y lý (dịch)
Hán văn
dành cho y học Đông Phương (dịch)
Hoàng
Đế Nội Kinh Linh Khu (dịch)
Linh
Quy Bát Pháp
Nội
Kinh Nan Kinh (dịch)
Thương
Hàn Luận
Châm
Cứu Thực Hành - Tý Ngọ Lưu Chú
Ngũ vận
lục khí trong Y học dân tộc
Tân
Nguyên đạo
Hình ảnh buổi giới thiệu sách Dịch lý Y lý của giáo sư Huỳnh Minh Đức