Thứ Ba, 5 tháng 9, 2023

Giao lưu ra mắt sách kịch bản sân khấu CÔ ĐÀO HÁT nhà văn đạo diễn NGUYỄN THỊ MINH NGỌC

 

Kính mời các bạn tham dự chương trình: “Giao lưu ra mắt sách kịch bản sân khấu CÔ ĐÀO HÁT”

Với sự hiện diện của nhà văn đạo diễn NGUYỄN THỊ MINH NGỌC

Gặp gỡ và giao lưu cùng

•NSND đạo diễn Trần Ngọc Giàu, Chủ tịch Hội Sân khấu TP HCM

•Nhà văn Trịnh Bích Ngân, Chủ tịch Hội nhà văn TP.HCM

•PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái, nguyên giảng viên khoa Báo chí, trường ĐH KHXH &NV (ĐHQG Hà Nội)

•Thạc sĩ Phạm Thi Ngọc Anh, Giám đốc nhà xuất bản Sân khấu

•Nhà văn - đạo diễn Nguyễn Thị Minh Ngọc

•Nhà văn Trầm Hương, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM

•NSƯT Thành Hội, sân khấu Hoàng Thái Thanh

•NSƯT Quốc Thảo, Sân khấu kịch Quốc Thảo

•Ca sĩ Hà Phương

• Ekip vở cải lương "Cô đào hát" đoàn Sân khấu Đại Việt

cùng nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi khác

MC: Nhà văn –nhà báo PHƯƠNG HUYỀN

Chương trình miễn phí

•Thời gian: 8g30 sáng thứ ba ngày 19 tháng 09 năm 2023

• Địa điểm: Hội trường A, lầu 2, tòa nhà Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật, số 81 Trần Quốc Thảo, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM

Đăng ký dự chương trình và gửi bài viết, câu hỏi vui lòng liên lạc

•Zalo/viber : 0782 787 828 (Ngọc Hân)

•Email: han.lengoc2019@gmail.com


Tiếp chuyện và lắng nghe TIẾNG NÓI TỪ SÔNG MEKONG giáo sư CHUNG HOÀNG CHƯƠNG

 Kính mời quý vị đăng ký đến dự chương trình:

Tiếp chuyện và lắng nghe TIẾNG NÓI TỪ SÔNG MEKONG

(Water is Life, Life is Water, new voices of the Mekong) trò chuyện cùng giáo sư Chung Hoàng Chương hiện là nghiên cứu viên cao cấp, Trung tâm Nghiên cứu quốc tế, Đại học KHXH & NV, Đại học Quốc gia TP HCM; chuyên gia thuộc tổ chức phi chính phủ International Rivers. Ông từng thành lập Trung tâm Nghiên cứu người Mỹ gốc Việt đầu tiên và là giảng viên Khoa Á Mỹ học, Đại học tiểu bang San Francisco, Mỹ.

vào 8g30 sáng thứ bảy ngày 09.09.2023

Nhã Nam Books N' Coffee Sài Gòn, Địa chỉ: 24A Đường D5, Phường 25, Bình Thạnh

Đăng ký tham dự: Ngọc Hân 0782 787 828 zalo/viber

Email: han.lengoc2019@gmail.com

CHUNG MỘT DÒNG SÔNG

Tôi sinh ra tại Tiền Giang, nhưng chẳng biết gì về nơi mình chào đời, cho đến ngày trở lại sau 50 năm sống ở nước ngoài.

Năm 2008, khi đang giảng dạy tại Mỹ, tôi nhận chương trình nghiên cứu giảng viên. Cứ mỗi sáu năm dạy học, giảng viên sẽ được nghỉ sáu tháng hoặc nguyên năm để trau dồi thêm kiến thức qua các dự án nghiên cứu. Tôi được tài trợ nghiên cứu về văn hóa lưu vực Mekong và những vấn đề liên quan đến địa chính trị của vùng Đông Nam Á.

Trong vòng sáu tháng, những chuyến thực địa dọc theo dòng Mekong đưa tôi qua Vân Nam, châu tự trị Tây Song Bản Nạp, Lào, vùng Tam giác vàng, Thái Lan, Campuchia, những phụ lưu của Mekong như Serepok, Sekong và Sesan, quan sát nhiều nhánh sông xuyên ngang đồng bằng sông Cửu Long. Những chuyến đi đã cho tôi cái nhìn xác thực về dòng sông cũng như người bản xứ.

Mekong là dòng chảy dài nhất Đông Nam Á, xuyên qua sáu quốc gia, Việt Nam ở cuối nguồn. Sông có đa dạng sinh học thứ nhì thế giới, chỉ sau sông Amazon. Thế nhưng dòng sông đang bị lạm dụng, nguồn nước bị chặn ở thượng nguồn. Những con đập khổng lồ đã biến Mekong thành một chuỗi những hồ nước dài hàng trăm cây số tại Vân Nam, Trung Quốc. Tiếp đó, Lào  cộng tác với Trung Quốc và Thái Lan xây thêm những đập nước trên dòng chính, trên đường biến thành cục pin sản xuất điện cho toàn vùng.

Từ năm 2015, sau khi nghỉ dạy tại Đại học San Francisco và về hưu, tôi tiếp tục muốn nghiên cứu về lưu vực của dòng sông này. Tôi cộng tác với Đại học Khoa họa xã hội và nhân văn TP HCM trong vai trò nghiên cứu viên. Niềm vui quý giá nhất với tôi là tuần nào cũng được đi một tỉnh, huyện hay xã, học được các khái niệm bản địa, hiểu thêm văn hoá và bề dày lịch sử của nơi tôi sinh ra.

Vài tuần nay, tôi gặp những tổ chức, chuyên gia gắn bó với đồng bằng. Họ nói về việc vùng đất bị xâm nhập mặn, thiệt hại về kinh tế có thể cao hơn mọi năm, nguồn nước bi suy thoái khiến sạt lở, thiếu nước, mùa màng có nguy cơ thất bát. Những viện nghiên cứu như Lowy, Mekong Commons, International Rivers và Ủy ban Sông Mekong đều đưa ra cảnh báo, kêu gọi tiết kiệm nước hay những đề xuất thay đổi lối canh tác để chúng ta có thể áp dụng như phương án thích nghi. Nếu tình trạng khô hạn, xâm mặn, sụt lún tiếp tục kéo dài thì kinh tế đồng bằng tiếp tục bị đe dọa trầm trọng. Như một hệ quả, phần lớn người dân địa phương đã và đang phải mưu tìm sinh nhai ở nơi khác.

Bằng kinh nghiệm sống và những thách thức hiện hữu, tôi cho rằng ta có thể nghĩ đến một kế hoạch với ba tầm nhìn: ngắn, trung và dài hạn.

Đầu tiên là một chiến lược ngắn hạn từ 2 đến 5 năm áp dụng mô hình nông nghiệp thuận thiên, linh hoạt uyển chuyển, tập trung vào sự tham gia của dân cư. Những nông dân từng trải, với thói quen bản địa và kinh nghiệm sống chung với sự thay đổi thời tiết và nguồn nước hiện đang áp dụng mô hình nông nghiệp thuận thiên ở vài nơi.

Ở Cồn Chim, ấp Hoà Minh, tỉnh Trà Vinh, chúng tôi đang hỗ trợ nông dân làm dự án "Con tôm ôm cây lúa". Với hỗ trợ của chính quyền địa phương, một nhóm chuyên gia hợp tác với nông dân trên một cù lao. Nếu khí hậu biến đổi và lượng nước từ thượng nguồn không đảm bảo, các chuyên gia đưa ra một mô hình linh hoạt. Nếu nguồn nước bị xâm mặn, nước lợ nhiều, nông dân sẽ chuyển qua nuôi tôm; còn nếu nguồn nước ngọt đầy đủ thì lúa sẽ thay thế tôm. Nông dân sẽ được trang bị kiến thức để tham gia vào ngành du lịch, cung cấp cho du khách những đặc sản của vùng, trải nghiệm bếp núc, câu cua hay làm bánh với khuyến cáo không rác thải. Nông nghiệp ghép với du lịch xanh và chậm bước đầu đã mang đến kết qủa rất khả quan cho những hộ dân sống trên cù lao này. Tôi cho rằng mô hình có thể áp dụng cho toàn vùng đồng bằng.

Thứ hai, trong chiến lược trung hạn, từ ba tới 10 năm, tôi nghĩ rằng một Trung tâm nghiên cứu Mekong học cho Việt Nam là điều then chốt. Ngành khoa học này sẽ liên kết với các đại học Đông Nam Á và thế giới, đào luyện những chuyên gia thông thạo và am hiểu về lưu vực Mekong trong mô hình phát triển bền vững, đề xuất hành động cho Chính phủ.

Thứ ba, nhìn xa hơn nữa, trong tầm nhìn trên 10 năm, bắt đầu ngay từ bây giờ, nỗ lực đi đến một Hiệp định ứng xử cho toàn lưu vực với sáu quốc gia đang chia sẻ nguồn nước giống như Hiệp định khai thác và phát triển lưu vực sông Rhine ở Châu Âu là chìa khóa của vấn đề.

Và hơn hết, ta đều biết nguyên nhân quan trọng của khó khăn hiện nay với đồng bằng là do những đập nước thượng nguồn tham lam và ích kỷ. Nhiều người vẫn hô hào rằng những cộng đồng thuộc lưu vực sông Mekong cùng uống chung một dòng nước. Nhưng nói suông không đủ. Nếu bản thân những người đại diện cho đất nước chúng ta không dám lên tiếng mạnh mẽ và cùng hành động để kêu gọi, thúc đẩy ra đời một hiệp định quốc tế được tôn trọng bằng tầm nhìn xa và những kiến thức khoa học thì không ai cứu đồng bằng. Nếu không tạo ra một nguyên tắc ứng xử chung văn minh, nhất quán, liệu có còn dòng nước chung mà uống mãi được không?

Chung Hoàng Chương



Ngày khai giảng dưới triều Nguyễn

 Vua triều Nguyễn rất chú trọng vấn đề giáo dục và đào tạo nhân tài. Vua Minh Mạng từng dụ rằng: “Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, chăm lo đến việc nuôi dưỡng nhân tài, đặt nhà học, cấp lương cho giám sinh, gia ân cho học trò, ban sách vở, đều mong học trò thành tài để giúp việc nước”. Vậy ngày khai giảng dưới triều Nguyễn xưa được các vua triều Nguyễn quy định thế nào? Từ các văn bản hành chính lúc bấy giờ, chúng ta sẽ tìm thấy một phần câu trả lời.

Dưới triều Nguyễn, lễ khai giảng thường diễn ra vào mùa xuân. Sách Đại Nam thực lục chép:  hàng năm sau ngày khai ấn đầu xuân một ngày thì khai giảng (開講).[1] Sách Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ cũng nói về việc này: Hàng năm cứ đầu xuân sau ngày khai ấn một ngày thì Quốc Tử Giám khai giảng. Cuối năm sau ngày xếp ấn một ngày thì nghỉ giảng (輟講). Đến ngày khai giảng thì đặc vị tiên sư ở Di Luân Đường, quan Quốc Tử Giám đem học trò làm lễ yết cáo.[2]

Các Hoàng thân và thầy dạy, nguồn: sưu tầm

Người xưa quan niệm chọn ngày lành tháng tốt để bắt đầu một việc là điều hết sức quan trọng, việc chọn ngày khai giảng cũng không ngoại lệ. Do vậy, ngày khai giảng xưa thường do Khâm Thiên Giám chọn ngày giờ tốt lành để tiến hành.

Châu bản triều Nguyễn cho biết, theo lệ hàng năm có lễ khai giảng, nên năm Thành Thái thứ 6 (1894), Khâm Thiên Giám xin chọn ngày Quý Sửu mồng 6 tháng 3 tiến hành khai giảnghiệp cát.[3]

Bản Tấu của Trần Nhượng năm Tự Đức thứ 31 (1878) cho biết thêm: Về ngày khai giảng sang năm, xin do Khâm Thiên Giám chọn ngày nào trong trung tuần tháng Giêng là ngày tốt và do quan Bộ Lễ vâng theo nghị chuẩn, sắm đủ các loại đèn, hương, rượu, quả làm lễ cáo để khai giảng.[4]

Theo thường lệ, trước ngày khai giảng một ngày, một viên giảng quan được Vua chỉ định, phụng mệnh đến điện Văn Minh bày biện, sắp các hạng lễ phẩm, làm lễ cáo dâng lễ vật, có chúc văn.

Để chuẩn bị cho lễ khai giảng năm Thành Thái thứ 10 (1898), theo lệ trước khai giảng 2 ngày, quan Bộ Lễ cùng thị vệ đem các vật hạng ở kho vào điện Văn Minh sắp đặt cho nghiêm chỉnh. Đến trước khai giảng 1 ngày thì một viên Kinh diên nhật giảng quan với đầy đủ triều phục, sẽ vâng mệnh làm lễ yết cáo đúng như nghi thức. Theo đó, ngày 24 tháng này (tháng 3) là ngày Đinh Mùi tiến hành lễ khai giảng và xin chỉ chuẩn phái Hiệp biện Đại học sĩ sung Phó Tổng tài Quốc Sử quán Kinh diên giảng quan Hoàng Hữu Xứng, trước 1 ngày, tuân lệ vâng mệnh làm lễ.[5]

Thông thường hàng năm, các viên tế tửu, tư nghiệp sau khi làm lễ vọng bái Tiên sư (Khổng Tử) thì lên trường khai giảng ngay ngày hôm ấy. Minh Mạng năm thứ 17 (1836), Bộ Lễ tâu: “Nhà Di Luân ở Quốc Tử Giám, trước đã đặt bài vị Tiên sư, để làm chỗ cho sinh viên bái vọng. Hằng năm, khai giảng hay nghỉ giảng đều làm lễ triển bái ở đó. Các tiến sĩ tân khoa cũng làm lễ Thích điện (lễ tế Tiên thánh Khổng Tử) tại đó. Vả, Văn Miếu ở bên tả nhà Quốc Tử Giám, cúng tế long trọng đã có chỗ rồi. Bái yết ở đó mới là hợp nghi. Vậy xin từ nay, hễ học sinh vào nhà Giám, thì giám thần mặc phẩm phục, đem học sinh đến Văn Miếu, làm lễ cáo yết xong, lui về giảng đường, làm lễ tham yết. Khi khai giảng hay nghỉ giảng, không phải cáo lễ nữa. Khi các tiến sĩ làm lễ Thích điện, cũng xin cho làm ở sân miếu, mới tỏ được trang trọng kính cẩn; còn chỗ bái vọng, xin đừng đặt nữa”! Vua cho là phải.[6]

Trang đầu bản Tấu của Bộ Lễ ngày 16 tháng 12 năm Tự Đức thứ 10 (1857) có đề cập việc khai giảng hàng năm của Hoàng thân, Hoàng đệ đang lưu lại học tập là do Khâm Thiên Giám chọn ngày tốt làm lễ, nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

Về nghi tiết giảng, sách Đại Nam thực lục chép, trước kỳ khai giảng 1 ngày, giảng quan đem mấy chương nêu giảng ở Tứ thư, kinh, sử, tâu lên dâng trình. Đến ngày, chia án tả, hữu tiến giảng. Khai giảng thì do giảng quan giảng, hằng ngày thì do nhật giảng quan giảng.[7]

Ngày khai giảng, đình thần ban văn từ tham tri trở lên và ấn quan ở viện Đô sát và Nội các, toản tu ở Sử Quán cùng các thân phiên, hoàng thân từ quốc công trở lên đều chuẩn cho theo ban vào chầu, cùng với các giảng quan đều làm lễ 5 lạy, xong thì chia ban, cũng đều cho ngồi.[8]

Chương trình dạy học thì chia theo ngày lẻ ngày chẵn, trước giảng kinh truyện, sau giảng sách, tử, sử, tính lý. Tháng nào cũng cứ các ngày mồng 3, mồng 9, 17, 25 chiểu theo phép thi ra đầu bài cho học trò tập làm văn. Kỳ nào cũng đem quyển văn ra bình duyệt. Duy kỳ đệ tứ trường đều yết bảng 1 lần. Học sinh lười biếng thì học quan đánh mắng cho biết nhục. Nếu có các tính xấu ô danh mất nết, thì quan Quốc Tử Giám tư bộ tham hặc nêu ra[9].

Như vậy đủ thấy triều Nguyễn coi trọng ngày khai giảng đến mức nào. Các nghi thức tổ chức khai giảng từ việc chọn ngày, làm lễ yết cáo đến lễ bái Tiên sư… mang đậm dấu ấn thời đại và khác xa so với lễ khai giảng hiện nay.

[1]Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007, tập 2, trang 399.

[2] Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, nxb Thuận Hóa, tập 15, trang 497.

[3] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Thành Thái, tập 9, tờ 32.

[4] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Tự Đức, tập 310, tờ 338.

[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Thành Thái, tập 38, tờ 126.

[6] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007, tập 4, trang 1048 - 1049.

[7] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007, tập 7, trang 119.

[8] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007, tập 7, trang 119.

[9] Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, nxb Thuận Hóa, tập 15, trang 498.

Hồng Nhung - Minh Huyền

Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

Triển lãm tượng đồng chân dung danh nhân - nghệ sĩ điêu khắc NGUYỄN SANG KIM THANH

TƯỢNG ĐỒNG nghệ sĩ điêu khắc NGUYỄN SANG KIM THANH Liên lạc: Nghệ sĩ điêu khắc KIM THANH Điện thoại: (+84) 0932.637.699 Zalo: (+84) 09326376...