Giới thiệu tập 4 của Tổng tập văn học dân gian Nam Bộ của Huỳnh Ngọc Trảng Phạm Thiếu Hương biên soạn
TUỒNG TÍCH SÂN KHẤU VÀ DIỄN XƯỚNG DÂN GIAN NAM BỘ
Đặt mua sách liên hệ zalo/ whatsapp Ngọc Hân 0782 787 828
KHO BÁU TUỒNG TÍCH SÂN KHẤU VÀ DIỄN XƯỚNG DÂN GIAN NAM BỘ
Thông
thường, nghĩ đến vùng đất Nam bộ, hình ảnh nổi bật là đờn ca tài tử và sân khấu
cải lương. Thực ra, cùng đất mới khai phá này là nơi cộng đồng Việt, Hoa, Chăm,
Khơ-me cùng chung sống và giao thoa, góp phần hình thành đời sống văn hoá bản địa
đa sắc tộc với phong tục, lễ hội và nghệ thuật dân gian đa dạng. Trong tập 4 của
Tổng tập Văn học dân gian Nam bộ, hai
tác giả Huỳnh Ngọc Trảng và Phạm Thiếu Hương tập trung giới thiệu các sáng tác
của nghệ thuật biểu diễn dân gian Nam bộ đem đến góc nhìn toàn cảnh diễn xướng
dân gian Nam bộ đã từng hoạt động sôi nổi.
Sơ
lượt về bối cảnh lịch sử, khi Chúa Nguyễn tiến vào Đàng Trong và mở rộng lãnh
thổ về phía Nam, các gánh hát bội, con hát cũng theo chân những người khai phá
vào theo vùng đất Đồng Nai, đồng bằng sông Cửu Long. Khoảng đầu thế kỷ 17, Đào
Duy Từ xuất thân từ gia đình hát bội vào Đàng Trong làm quan của chúa Sãi Nguyễn
Phúc Nguyên, từ đó ông bồi bổ hoàn chỉnh hát bội của miền Nam chuẩn mực hơn.
Chúa Nguyễn cũng đã từng sai lính hầu cận vào Trấn Biên bắt con hát đưa về diễn
ở Phú Xuân. Qua ghi chép và tranh vẽ của John Barrow trong sách A Voyage to Cochinchina in the year 1792
and 1793 (Hành trình đến Đàng Trong năm 1792-1793), chúng ta cũng thấy sự phổ
biến của diễn tuồng, hát bộ ở Nam Hà. Đến thế kỷ 19 là thời kỳ phát triển mạnh
mẽ hơn, ở Gia Định, tả quân Lê Văn Duyệt tổ chức gánh hát bội, các quan cũng
tranh nhau lập đoàn hát bội, nuôi con hát biểu diễn trong các cơ đội binh lính.
Miền Nam trong một thời gian dài hát bội thành loại hình sân khấu thời thượng .
Hát
bội quen thuộc với cả trẻ con qua câu ca dao
Má ơi đừng đánh con đau
Để con hát bội, làm đào
má coi
Theo
nhận xét của nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng, hát bội trong giai đoạn thịnh
hành đã tác động mạnh mẽ đến hầu hết các hình thức diễn xướng dân gian từ diễn
xướng thực hành nghi lễ của tập tục thờ tự các nữ thần – gọi chung là hát bóng
rỗi đến các hình thức diễn xướng thực hành tang lễ: Hát đưa linh, hát chèo thuyền
bát nhã của đạo Cao Đài, và các hình thức thực hành nghi lễ Phật Giáo. Sân khấu
kịch phương Tây của đạo Công giáo cũng được gọi là Tuồng. Song song với hát bội
chuyên nghiệp trên sân khấu thì trong dân gian có tuồng thầy, tuồng pho và tuồng
đồ dân gian là những kịch bản rút gọn, đơn giản hơn so với tuồng gốc. Nói
chung, hát bội xâm nhập sâu sắc vào sinh hoạt biểu diễn ở cả Nam bộ suốt nhiều
thế kỷ trước khi ca kịch cải lương thịnh hành.
Hình vẽ cảnh hát tuồng ở
Nam Hà in trong cuốn A Voyage to Cochinchina in the year 1792 and 1793 (Hành
trình đến Đàng Trong năm 1792-1793) John Barrow.
Trong tập 4 của Tổng tập Văn học dân gian Nam bộ, nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng đã phân tích nhiều loại hình diễn xướng và giới thiệu trọn vẹn kịch bản vào sách để độc giả tham khảo. Những loại hình này bao gồm: Các hình thức diễn xướng tổng hợp như hát sắc bùa Phú Lễ, hát đưa linh, bổn hát chèo thuyền Bát Nhã; Hát bóng rỗi và chặp tuồng Địa – Nàng; Tuồng lễ thức Công giáo (như tuồng Ce-ci-lia-a, tuồng Thương khó); Thơ tuồng và sinh hoạt nói tuồng Nam Bộ; cùng hình thức tuồng trong chay ngoài bội của Phật giáo.
Từ hệ thống này, có thể thấy đời sống diễn xướng dân gian Nam
Bộ là một không gian nghệ thuật đa dạng, đan xen giữa nghi lễ, tín ngưỡng và
sinh hoạt cộng đồng. Trong số đó, hát sắc bùa Phú Lễ (Bến Tre)
là hình thức đặc biệt vì không chịu ảnh hưởng của hát bội,
đồng thời còn được bảo lưu khá trọn vẹn cho đến ngày nay, từ nghi lễ đến làn
điệu, các bài lý, nói vè, nói thơ… Nguồn gốc của hát sắc bùa Phú Lễ xuất phát
từ sắc bùa Trung Bộ vùng Quảng Ngãi – Bình Định. Mỗi năm, bắt đầu từ 30
tháng Chạp, các gánh sắc bùa khởi hành lưu diễn. Họ đi thành hàng dọc:
ông bầu mặc áo dài, mang guốc vông, vừa vỗ trống cơm vừa hát các bài lý; phía
sau là các con mặc bà ba đồng thanh ca theo, cùng tiếng sanh tiền, sanh cái và
đàn cò vang lên báo hiệu để dân chúng rước vào chúc Tết. Khi chủ nhà mời vào
sân, toàn đội hát bài Cõi Nam để chúc
tụng sau đó vào cửa chính hát Khai môn,
tiếp là bài Rước xuân và kết thúc với
bài Chơi Xuân. Sau đó là tiết mục
nghi lễ trấn bùa trừ tà và hát chúc nghề nghiệp cho gia chủ. Đây là một hình
thức tổng hợp phong phú, tạo nên không khí đón Tết đặc sắc ở vùng đất này.
Bên
cạnh đó, tuồng đồ dân gian
vẫn được duy trì tại các rạp lá, nhà lồng chợ hay trong các lễ hội miễu và
những đám làm chay “trong chay ngoài bội”. Tùy điều kiện kinh phí mà chủ lễ có
thể mời trọn gánh tuồng, hoặc chỉ thuê một đào/ một kép độc diễn trọn một bổn
thơ tuồng.
Trong
dòng chảy Nam tiến của cư dân Thuận Quảng, Vè Chàng Lía theo chân người dân
vào Gia Định, rồi chịu ảnh hưởng mạnh từ hát bội. Từ đó, vè chuyển hóa thành thơ tuồng Văn
Doan diễn ca, và kết hợp cùng nói thơ mà hình thành nên nói tuồng trở thành một trong hai bản
thơ tuồng quen thuộc nhất trong sinh hoạt nói tuồng Gia Định là Văn
Doan diễn ca và Ông Trương Tiên Bửu. Tình tiết
trong Văn Doan diễn ca phong phú và sinh động, người hát ca xướng, khoa tay làm
điệu bộ theo tâm lý nhân vật tạo sự hấp dẫn đặc biệt. Xin trích một đoạn Lía
lập mưu đốt nhà Tham Bình để bắt lại trâu đã mất đem về cho chủ
Tán viết:
Khổ dã, khổ dã
Nguy tai, nguy tai
Nào tôi biết liệu làm sao mà đem trâu về cho
người ta chừ!
Xướng viết:
Âu là toan một chước hay,
Giả làm trò khó, tới hay nhà người,
Đầu thời Lía đội nói cời,
Tay cầm roi ngựa tới ngay Tham Bình:
“Tôi nay học đạo Khổng Trình
Vì chưng lỡ bữa đem mình giáo khuyên”.
Ảnh
hưởng của hát bội còn lan rộng
sang nhiều hình thức diễn xướng khác. Trong hát đưa linh, đội mai táng sử dụng cách diễn của hát bội hòa quyện
với hò dân gian. Trong sinh hoạt bóng
rỗi, hát bội kết hợp để tạo thành chặp bóng tuồng Địa – Nàng, và về sau phát triển thành các biến
thể kim thời có bài bản rõ ràng. Trong tuồng
lễ thức Phật giáo, sự kết hợp ấy tạo nên không gian “làm chay hát bội”
tại chùa, đình, miễu… Nội dung các tuồng đám thường chứa đựng giáo lý nhân quả,
kết hợp đạo pháp với đạo đức dân gian. Tác giả giới thiệu đầy đủ nhiều tuồng
tiêu biểu như Tiên Bửu (bản in 1904), Trương Ngáo đòi tiền Phật (bản in 1904),
Trương
Đồ Nhục (bản in 1980), Thằng Lãnh báo heo (bản in 1915)
và Tứ Linh.
Đọc
qua kịch bản tuồng Ngưu Cao tảo mộ
(Trần Thiện Quí, 1914) chúng ta sẽ thấy rõ nghệ thuật tuồng bội phối hợp với
dân gian để tải đạo lý đời thường thí dụ như đoạn trích sau
Thang
Hoài viết: Ớ, ớ nầy em! Giải sầu bi thời
là phải lắm mà! Ngưu đệ nầy! Hễ là nhơn sanh ư thế, thời mạng tại hồ thiên.
Mạng người đến chết lại nhớ thương cho lắm đi nữa, á, á hư mạng mình đó thôi!
Chớ người cũng không sống lại đặng mà! Thôi, hiền đệ khá giải phiền, đặng cho
anh hồi bản lai nguyên soái (Thanh Hoài ra về)
Ngày
nay, dù nhiều hình thức diễn xướng dân gian đã mai một, nhưng những tư liệu mà
Huỳnh Ngọc Trảng ghi lại chính là kho tàng quý báu, giúp chúng ta hiểu rõ tiến trình giao
lưu – biến đổi của nghệ thuật dân gian Nam Bộ. Đây cũng là nền tảng quan trọng
để chúng ta tiếp tục nghiên cứu, bảo tồn, học hỏi “ôn cố tri tân” để sáng tạo
những tác phẩm mới mang bản sắc dân tộc.
Bài đã đăng trên trang 16, báo Đà Nẵng cuối tuần, số 9169,
ngày 11/1/2026
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét