Thứ Hai, 22 tháng 12, 2025

TANG LỄ VUA KHẢI ĐỊNH, VUA NƯỚC AN NAM - Alfred Menvnard-tạp chí Illustration 1926


 Án thờ vua Khải định được đặt trang trọng ở vị trí trung tâm của điện Khải Thành. Ảnh: Thái Hoàng

Tạp chí Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng [ISSN 1859-3437], số 192 (tháng 12/2025) vừa đăng bản dịch bài báo “Les funérailles du roi d’Annam Khải Định” của Alfred Menvnard, đăng trên tạp chí Illustration, 84e année, no 4350 [Samedi, 17/7/1926], pp. 59-63, do TS. Trần Đức Anh Sơn dịch sang tiếng Việt.

Lưu ý là bài báo này in năm 1926, mà ảnh in kèm bài đã in màu (như các ảnh đính kèm). Thế mới thấy công nghệ in ấn của nước Pháp thuở đó đã “khủng” cỡ nào.

TANG LỄ VUA KHẢI ĐỊNH, VUA NƯỚC AN NAM

Nguyên tác Pháp ngữ: ALFRED MENVNARD; Việt dịch: TS. Trần Đức Anh Sơn

Trong vài tháng gần đây, chúng tôi đã nhiều lần đưa tin về các lễ tang, với những nghi thức xa hoa và phức tạp ở Viễn Đông, được cử hành nhân cái chết của Rama VI, vua Xiêm, và của Khải Định, vua An Nam. Hôm nay, chúng tôi trở lại với lễ tang của vị hoàng tử cuối cùng này, người kế vị của vua Khải Định, hiện đang theo học tại Pháp (xem số báo ngày 3 tháng 4 của chúng tôi). Một bài tường thuật rất văn chương và rất chính xác của ông Alfred Meynard, kèm theo những bức ảnh màu tuyệt đẹp được chụp đặc biệt cho chúng tôi trong dịp cử hành tang lễ này, với sự uy nghi và lộng lẫy vô song.

* Khung cảnh

Huế, kinh đô của An Nam, nơi lưu giữ cuối cùng những truyền thống của đất nước, đã chứng kiến sự phục hưng của những nghi lễ huy hoàng thời xưa. Để tỏ lòng tôn kính với vị vua đã thăng hà theo tang nghi đã định, đã mở cửa các cung điện trong hoàng cung.

Giống như Florence, Venice và Avignon, Huế đã gửi gắm tâm hồn vào cảnh quanh ở nơi khai sinh ra thành phố này. Có một sự hài hòa đầy biểu cảm giữa những ngọn đồi uốn lượn như những tấm màn nhung dưới bầu trời dịu nhẹ, dòng sông Hương với làn nước trong vắt như mặt hồ tĩnh lặng, và vẻ duyên dáng của nghệ thuật, phong thái của cư dân, mềm mại, vui vẻ nhưng vẫn thấm đẫm nền nếp cổ xưa.

Bố cục của Huế đơn giản: bên hữu ngạn sông là khu phố Pháp; bên tả ngạn là Kinh Thành và phố thị người An Nam; trung tâm là Hoàng Thành cùng nhiều công trình kiến trúc khác.

Xa hơn, hai bên bờ sông và rải rác ở nơi thôn dã, tại những nơi u tịch và trang nghiêm, là lăng tẩm của các vị tiên vương.

Đại hành hoàng đế Khải Định thăng hà ngày 6 tháng 11 năm 1925, đã cho xây lăng tẩm của mình ở một nơi hẻo lánh trong vùng u tịch rộng lớn ấy, chìm trong sự tĩnh lặng uy nghi của rừng thông, là nơi dành riêng cho người đã khuất. Tựa lưng vào một ngọn đồi, công trình kiến trúc đồ sộ vươn lên trên ba tầng sân chồng lên nhau, được ngăn cách bởi một hồ nước. Lăng vẫn đang trong quá trình xây dựng, nên không có được vẻ uyển chuyển, mềm mại như những lăng tẩm đời trước, và cũng không có nét huyền bí như những nơi ấy…

Ở tầng trên của lăng Khải Định, trước án thờ của vua, có một pho tượng thếp vàng thể hiện nhà vua đang ngồi, hai tay cầm chiếc hốt bằng ngọc như ý. Ở phía dưới và nằm trên trục của án thờ là hầm mộ sâu, hình chữ nhật, xây bằng những khối đá hình lập phương, được gắn kết với nhau bằng chì. Cửa ra vào hầm mộ có hai cánh, bằng đá.

Chỉ riêng kiến trúc lăng mới đã phản ánh sở thích của nhà vua. Vị trí của lăng đã được các thầy địa lý xem xét nghiêm ngặt và lựa chọn từ trước. Họ đã kỳ công kết nối những ảnh hưởng của thiên tượng và hình thế đất đai bằng một chiếc la bàn được phát minh từ 2.000 năm trước. Địa thế khu lăng phải có long chầu, hổ phục đối xứng nhau. tượng trưng cho hai sắc trắng và đen trong ma thuật. Để tìm được long mạch, nơi đắc địa để an táng nhà vua, người ta phải mất nhiều công sức khảo sát rất lâu, vì vị trí của khu lăng sẽ quyết định hậu vận của người đã khuất và của cả dòng tộc. Và thường thì, theo sử sách, hậu duệ của một thường dân nếu chôn cất trúng long mạch, thì sẽ khởi phát một triều đại.

* Sau khi nhà vua thăng hà

Cung điện [trong Hoàng Thành] được đóng kín nghiêm ngặt hơn trước, và triều đình thì đám chìm trong nghi thức tang lễ, càng thêm cô quạnh.

Trước đó, thi hài nhà vua được tắm rửa và tẩm liệm, mặc lễ phục, rồi được đặt vào chiếc quan tài bằng gỗ quý sơn son thếp vàng, đầu quay về hướng Đông ngự tẩm1; các phi tần và hầu cận nâng một bộ áo của tiên vương lên trời, cầu xin “ba hồn bảy vía” của ngài quay lại để nhập vào tấm vải vô tri. Đối diện với khung cảnh tang tóc, tiếng khóc vang vọng khắp nơi. Dưới tấm khăn phủ màu vàng thêu hình mặt trời, giữa làn hương thơm từ các bàn thờ và ánh nến lung linh, linh cữu2 của vua được rước sang một gian khác trong cung điện, là điểm dừng đầu tiên trên hành trình chậm rãi đi về nơi an nghỉ.

Vua An Nam, cùng với các hoàng thái hậu, được quyền qua đời ở trong nội cung. Thi hài của vua Khải Định, đặt trong linh sàng, sẽ được canh giữ cho đến ngày cử hành tang lễ, do các Khâm thiên đại thần định ngày. Không có việc quan trọng nào trong hoàng cung Huế có thể diễn ra nếu không có lời tư vấn của các vị quan này.

Người An Nam xưa nói rằng: những ngày tốt đã được lựa chọn chưa bao giờ gặp thời tiết xấu. Quả thực, lễ tang vua Khải Định đã diễn ra dưới bầu trời xanh, giữa hai đợt mưa.

Triều đình để tang từ ngày 16 tháng 11 năm 1925. Lễ đăng quang của tân vương được cử hành vào 8 tháng 1 năm 1926, và tang lễ chính thức diễn ra trong ba ngày 29, 30 và 31 cùng tháng.

* Cáo tang

Một con bò, một con dê và một con heo3 đã được hiến tế. Một vài phần thịt được đặt lên một án thờ dựng trước cửa điện Càn Thành, cùng những lễ vật khác gồm gạo, hoa quả, trà, rượu và những tờ sớ sẽ được đốt trong một chiếc lư bằng đồng. Một linh tọa và hai chiếc ngai được bài trí; linh tọa ở giữa để trống; hai chiếc ngai ở hai bên dành cho hai vị hoàng thái hậu. Phụ chánh đại thần, hoàng thái tử [Vĩnh Thụy], hoàng tộc và quan viên văn võ cao cấp chầu hầu bên trái; các phi tần của tiên vương, cùng phi tần của các tiên đế đời trước, các hoàng thân và chức sắc chầu hầu bên phải.

Sau đó, theo lời xướng của các quan chấp lễ, chân dung vua Khải Định vẽ trên lụa được đặt lên linh tọa ở chính giữa. Hai vị hoàng thái hậu bước xuống khỏi ngai, đến trước bức chân dung và cùng triều đình thực hiện những nghi thức đầu tiên của tang lễ, từng động tác được nhịp nhàng theo tiếng xướng của các quan chấp lễ.

Mỗi nhóm tham dự, theo thứ bậc lần lượt tiến vào bái lạy. Ở những nơi khác trong hoàng cung, những nghi thức tương tự cũng được lặp lại. Sau nghi lễ này, tang nghi trở thành chính thức. Theo di chiếu của Khải Định, thời gian để tang được rút ngắn và một số lễ chế quy định trong Sách Lễ được giảm bớt.

Từ khi bắt đầu chịu tang đến ngày an táng, mỗi ngày di hài của nhà vua đều được cúng cơm4 và [có người] than khóc theo nghi thức. Một phần vía của tiên vương sẽ còn ngự trong thi hài suốt sáu mươi ngày. Trong khi chờ dâng thụy hiệu và miếu hiệu, sẽ được khắc lên thần chủ sau lễ mai táng, linh hồn của tiên vương vẫn trú ngụ trong thần bạch - một mảnh lụa được gấp lại, buộc thành các nút mô phỏng đầu và tứ chi - đặt lên ngực vua đang hấp hối và giữ lại hơi thở cuối cùng của người quá cố. Mảnh lụa này được phủ lên thần chủ, đặt trong long giá, sẽ được rước trong lễ tang.

* Đưa tang

Sáng ngày 29 tháng 1, lúc 6 giờ, lễ khiển điện diễn ra bên trong Hoàng Thành. Lời cầu nguyện và tiếng khóc than không dứt. Cổng Hoàng Thành và cổng Kinh Thành đều đóng kín. Chỉ có ông Alexandre Varenne - Toàn quyền Đông Dương, Khâm sứ Trung Kỳ và một số quan chức cao cấp được phép nhập cung để chào hoàng gia và cùng dự lễ khiển điện, nơi linh cữu đang được đoàn đưa tang long trọng chờ đợi bên ngoài cổng.

Khâm sứ Trung Kỳ đọc lời vĩnh biệt gửi đến vị vua của quốc gia được bảo hộ. Và đoàn đưa tang bắt đầu di chuyển. Đoàn đưa tang sẽ mất hai ngày để đến khu lăng mộ, dừng lại tại các lô điện bài trí bên đường, tạm nghỉ để làm lễ cúng cơm và các buổi vọng tang.

Rất nhiều lần tập dượt đã được thực hiện chuẩn bị cho khâu cuối cùng của tang lễ. Việc vận chuyển cỗ linh xa, nặng 6 tấn, đòi hỏi một quá trình tập luyện lâu dài, bởi vật thiêng mà nó chở theo không bao giờ được nghiêng lệch. 160 người khiêng5 phải điều chỉnh từng bước chân theo mọi mấp mô của địa hình, đã luyện tập đến mức không một giọt nước nào rơi khỏi chiếc chén dựng đầy nước đặt trên linh xa - dấu hiệu tinh tế để kiểm tra độ chuẩn xác của từng chuyển động… Một sự im lặng lớn lao bao trùm, trở nên hữu hình bởi tiếng ngân vang từ một chiếc chiêng bằng bạc. Theo sau những bước chân uy nghi của hai con voi dẫn đầu, đoàn đưa tang trải dài như một làn sóng lụa vô tận phấp phới trong gió.

Năm lá đại kỳ dẫn đầu [đoàn đưa tang] tượng trưng cho ngũ hành (thủy, khí, thổ, hỏa, kim) - nền tảng của vạn vật; tiếp đến là cờ nhị thập bát tú - 28 vì sao chi phối vũ trụ; những lá minh tinh ghi công đức của tiên vương; những lá cờ thêu hình rồng vàng, biểu trưng của quyền uy; các biểu tượng của mặt trời, mặt trăng, những vị thần linh trên trời; các lồng đèn có hình “bát quái”; những dải lụa, tàng lọng, quạt; những chiếc trống khiêng trên cáng, ban nhạc theo hầu nhưng không cử nhạc6; những con ngựa, xa kiệu, cùng những kẻ hầu cận của nhà vua.

Tám “chiến binh đáng gờm” đeo mặt nạ và râu theo phong cách sân khấu, tượng trưng cho các vị thần xua đuổi tà ma. Theo sau là hai nhóm tăng sĩ: một nhóm đội mũ bát giác7, khoác áo choàng kết bằng các miếng vải hình vuông hai màu đen trắng; nhóm kia đội mũ trùm đầu8, mặc áo choàng bằng gấm. Những hầu cận mặc áo xanh cúi gập mình khiêng một bàn thờ Phật, theo sau là một chiếc khám đựng lễ vật. Người cầm lư hương bằng bạc9 đưa qua đưa lại. Và rồi, là những mô hình làm bằng giấy, rực rỡ màu sắc, sao chép chi tiết mọi vật dụng từng gắn bó trong cuộc đời nhà vua,và những nhân vật từng có mặt xung quanh ngài, được khiêng bởi những chiếc kiệu cao màu đỏ và vàng, trên đỉnh có lọng che màu vàng.

Trong những chiếc tráp sơn son thếp vàng là các sắc phong và tước hiệu hoàng gia, lễ phục, những vật dụng yêu thích của tiên vương, và cả những bài ngự chế thi. Những chiếc đèn lồng, tàng lọng bằng lụa màu cam, lư hương tháp tùng linh xa, một cỗ xe sơn son thếp vàng, ánh nến sáng rực. Đó là xe rước thần bạch, và linh cữu ở ngay đằng sau, đầu hướng về phía trước, biểu thị rằng “[nhà vua] rời bóng tối để đi về phía ánh sáng”.

Được bao quanh bởi tám ngọn đèn tượng trưng cho các vị phúc thần, là cỗ linh xa nặng nề, đặt trên bốn thanh gỗ lớn sơn đỏ, hai đầu chạm hình đầu rồng [thếp] vàng. Ở giữa, dưới che bởi một cái tán màu vàng là chiếc quan tài hình chữ nhật an vị trong ánh dịu nhẹ của những ngọn nến, hòa quyện với sắc vàng [của lụa] và nền đỏ [của cỗ linh xa] thành một ánh sáng ấm áp.

Đi giữa đội thị vệ, các hoàng thân và quan lại, những nhóm người [mặc] đồ trắng trong đoàn đưa tang đầy sắc màu, tiếp nối phía sau. Kế đến là một án thờ có hai ngọn nến lớn, chỉ được tắt khi vào đến huyệt mộ; một linh xa nhỏ hơn dùng để đưa tử cung [vào huyền cung] trong lăng; rồi cờ, lụa, chiêng trống; các hầu cận mặc áo xanh mang theo những vật dụng thần bí. Các biểu tượng của ngũ hành kết thúc đoàn đưa tang, vì mọi vật đều sinh ra từ ngũ hành và trở về với ngũ hành. Sau đó một đoạn là những nhạc công cung đình đang tiến lên, rồi đến xe ngựa, kiệu, và xe kéo của nhà vua, do người hầu kéo. Dân chúng nhập vào phía sau đoàn đưa tang.

Không có tiếng ai oán hay lời than khóc. [Vì] những người phụ nữ than khóc đã ở lại hoàng cung.

Tấm gương của một bậc tiền nhân hiển hách đã khiến vị tân vương [vua Bảo Đại] đứng đợi linh cữu của vua cha mình tại điểm dừng đầu tiên, mà theo nghi thức, lẽ ra ông phải đi lùi ở trước linh cữu cho đến tận nơi an táng.

* Những lễ cúng trên đường, và những đêm vọng tang

Lăng vua Khải Định ở cách Huế hơn 10 cây số. Trước khi đến nơi, để thực hiện buổi vọng tang cuối cùng, đoàn đưa tang sẽ trải qua đêm đầu tiên tại đàn Nam Giao.

Tại đàn Nam Giao, các lễ tế Giao dâng cúng Trời, Đất và tổ tiên sẽ diễn ra ba năm một lần. Vua An Nam sẽ thực hiện nghi thức chay tịnh tại Trai Cung. Giờ đây, khi chính thức trở thành tiên vương, nhà vua sẽ trải qua đêm cuối cùng trên trần thế tại nơi này.

Dưới tòa lô điện10 [lợp] bằng vải vàng, giữa ánh sáng của đèn nến và khói hương nghi ngút, linh xa được đặt xuống, bên cạnh là tiểu linh xa chở thần bạch và những án thờ di động.

Hoàng hôn buông xuống biến hàng ngàn màu sắc, nơi các nhân vật, mỗi người một góc, đang nghỉ ngơi, thành những gam màu trầm. Trên chiếc bàn thờ đối diện linh cữu, các lễ vật được sắp xếp ngay ngắn. Viên quan chủ lễ, sau khi bái lạy, cầu xin linh hồn [của tiên vương] ngự giá tham dự tịch điện.11 Tiếng chiêng ngân lên những âm thanh trong trẻo. Hương trầm lan tỏa.

Đêm xuống. Hàng ngàn đèn lồng được thắp lên trở thành những đốm sáng trong trong đêm trên những lối đi. Những bó đuốc bằng gỗ thơm cắm xuống đất cháy rực. Không khí tràn ngập vẻ linh thiêng. Cảnh vật tĩnh lặng tạo thêm sự sâu lắng nơi Trai Cung.

Tất cả những người An Nam tham dự đám tang đều ở lại nơi này - nghỉ ngơi, trò chuyện hay ăn uống ở những cái rạp dựng tạm ngoài trời. Với khả năng thích nghi linh hoạt của người phương Đông, sự tấp nập của họ không làm tổn hại đến sự trang nghiêm của giờ phút này. Các quan lại canh trực đi lại, trò chuyện thân mật, hòa mình cùng dân chúng.

Ngày 30 tháng 1, đoàn đưa tang tới nơi an táng. Tại lối vào huyền cung12, trên một bệ trượt, tử cung được đặt ở đó như chiếc nôi của một đứa trẻ đang ngủ. Nghi lễ tương tự như đêm hôm trước. Nhưng vua Bảo Đại, hai hoàng thái hậu và các vị thượng thư sẽ qua đêm trong gian phòng đặt bàn thờ vị vua quá cố. Dưới chân lăng, đoàn đưa tang hạ trại nghỉ ngơi.

Một cảnh tượng bất ngờ: giữa ánh sáng lung linh của những chiếc lồng đèn và ánh nến vàng vọt, mặt tiền của khu lăng bỗng sáng bừng bởi những dãy đèn điện. Một máy phát điện đã được lắp đặt tại đó - và tiếng động của nó - than ôi! gây ra hiệu ứng tương tự thứ ánh sáng do nó tạo ra!

* Lễ an táng

Hai bà hoàng thái hậu và các phi tần nấp sau một tấm rèm màu vàng ở bên trong huyền cung; các vị đại thần đứng thành nhóm ở hai bên tử cung. Sau họ, phía bên phải là các mệnh phụ người Pháp và phu nhân của các quan chức An Nam; phía bên trái là các khách mời người Pháp. Ở hai tầng sân dưới, các quan lại khác đứng vào vị trí.

Vua Bảo Đại, đứng trước linh xa, tiến ra đón Toàn quyền Đông Dương, ông Alexandre Varenne, người sau một phút mặc niệm đã đọc một bài diễn văn ngắn gọn, rõ ràng, thấm đẫm sự cao cả hào phóng.

Sau đó, một vị quan quỳ xuống xin tiên vương cho phép an táng. Tấm phủ được cỡi bỏ khỏi tử cung, lộ ra như một cỗ quan tài lớn sơn đỏ, rực sáng bởi hình những con giao long thếp vàng. Các vị thượng thư nắm những sợi dây thừng, từ từ kéo cỗ quan tài trôi dần vào khoảng tối trong huyền cung lấp lánh ánh nến. Mỗi lần quan tài dịch chuyển, họ cất lên những lời than nhịp nhàng, hòa cùng tiếng van khóc của phụ nữ. Rồi các đại thần, trước khi những cánh cửa đá được niêm phong, từng người một bước vào trong huyền cung, tay cầm nến giơ cao. Tân vương tay cầm “gậy than khóc”13, dẫn viên Toàn quyền đến cửa huyền cung, cúi mình thi lễ. Mọi người trở về chỗ. Tiếng nức nở vẫn vang vọng trong không gian yên tĩnh.

Quỳ gối trước bức rèm vàng, vua Bảo Đại bái lạy nhiều lần, trán chạm đất. Sau đó đến lượt các quan viên vào lạy. Viên Toàn quyền và đoàn tùy tùng ra về sau khi tham dự bữa “cơm cúng” được tổ chức theo hình thức hiện đại - một bữa ăn nhẹ.

Dưới chân lăng mộ, những đồ mả - một thế giới mong manh và tạm bợ - cùng vài bộ áo của nhà vua và những hình nộm vũ khí được đem đốt, kèm với những tờ sớ bằng giấy vàng. Những vật dụng cần thiết hoặc từng đem lại niềm vui cho vị vua khi còn sống, giờ được ngọn lửa thiêu hủy hình tướng và gửi tinh thần của chúng đến cõi âm, vì “ánh sáng là nguồn gốc của mọi sức mạnh”.

Không xa ngôi mộ, thần bạch đã được mai táng. Vào lúc này, các vị quan đã kết hợp các ký tự thành thụy hiệu của nhà vua và viết thụy hiệu lên thần chủ.

Tại hoàng cung sẽ diễn ra lễ phản khốc. Nhưng chu trình tang lễ chỉ khép lại sau hàng loạt nghi lễ cáo tang và tạ ơn thần linh và tổ tiên. Tại Thế Miếu trong Hoàng Thành, nơi thờ phụng các vị tiên đế triều Nguyễn, từ nay, Khải Định sẽ có gian thờ riêng.

Linh hồn thiêng liêng, sau khi để lại một mối liên kết với trần thế, đã lên đường đi đến Thập điện Diêm vương, nơi các đại phán quan đang chờ để phán xử. Ở “Kính chiếu yêu”, linh hồn không thể nhắm mắt, sẽ nhìn thấy mọi hành động trong suốt cuộc đời mình tái hiện đầy đủ, kèm theo những hệ quả tất yếu của chúng. Linh hồn sẽ đi qua “Luân hồi đài”, tối đen ở bên trong, nhưng trong suốt từ bên ngoài. Và trước khi bị đẩy vào một trong 108.000 con đường dẫn về cõi vô định, linh hồn sẽ uống “thuốc lú” - tự nguyện hoặc miễn cưỡng. Và qua vô số kiếp luân hồi, sẽ có ngày linh hồn sẽ đến được “Cõi Tây phương cực lạc” và được an nghỉ nơi “Tịnh độ”.

Chú thích:

* Các chữ trong ngoặc [] là do người dịch thêm vào cho rõ nghĩa.

* Tất cả chú thích là của người dịch:

1 ngự tẩm: giường nằm của vua.

2 Nhà Nguyễn gọi linh cửu là tử cung.

3 Nhà Nguyễn gọi là tam sanh.

4 Chữ Hán là triêu điện (cúng cơm sáng) và tịch điện (cúng cơm tối).

5 Nhà Nguyễn gọi là dư quân.

6 Chữ Hán là thiết nhi bất tác.

7 mũ Trí Huệ của các tăng sĩ Phật giáo.

8 mũ Quan Âm của các tăng sĩ Phật giáo.

9 Nhà Nguyễn gọi đề lô.

10 lô điện: Ngôi nhà tạm dựng lên để bàn đám.

11 tịch điện: lễ cúng cơm tối.

12 huyền cung: huyệt mộ.

13 Chiếc gậy tre của trưởng nam chống trong đám tang của người cha quá cố.

Nguồn:  FB https://www.facebook.com/share/p/1CDpgPxBVe/



















Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Triển lãm tượng đồng chân dung danh nhân - nghệ sĩ điêu khắc NGUYỄN SANG KIM THANH

TƯỢNG ĐỒNG nghệ sĩ điêu khắc NGUYỄN SANG KIM THANH Liên lạc: Nghệ sĩ điêu khắc KIM THANH Điện thoại: (+84) 0932.637.699 Zalo: (+84) 09326376...