Thứ Năm, 9 tháng 3, 2023

LƯƠNG MINH: HUỲNH THIÊN KIM- NHÀ SỬ HỌC BÌNH DÂN

 HUỲNH THIÊN KIM- NHÀ SỬ HỌC BÌNH DÂN 

Đi sinh hoạt CLB Người yêu sách Nguyễn Huy Tưởng, tôi được gặp nhà văn Huỳnh thiên Kim Bội , chị quê ở làng Giồng Ké , xã Trung Ngãi, Vũng Liêm , Vĩnh long.  Biết chị là người cùng quê ở Vĩnh long , tôi đến bắt chuyện làm quen. Xã Trung Ngãi tiếp giáp với huyện Càng Long, của Trà Vinh và gia đình chị sống ở Trà Vinh nhiều năm nên chị cũng không rành về nơi sinh là mấy. Chị tặng tôi mấy quyển sách sử cận đại của ông Huỳnh Thiên Kim , ba chị với tựa đề Việt Sử Diễn Ca.

Thật ra, tựa sách và tên tác giả đều xa lạ với tôi bởi vì tôi là kẻ hậu sinh. Nếu tính theo năm sinh thì Huỳnh Thiên Kim gần bằng tuổi ông tôi, tôi và các bạn tôi ở Trà Vinh không biết ông cũng là chuyện bình thường. Tôi hỏi GS Nguyễn Văn Sâm. một học gỉa chuyên tầm sách xưa thì ông biết rất rõ. Anh Sâm cho biết , cụ Thiên Kim là giáo viên tiểu học dạy tại Bạc Liêu, viết báo rất sớm, cộng tác với Lục Tỉnh tân Văn, Nông Cổ Mín đàm. Ông có xu hướng theo kháng chiến nên bị cách chức giáo học. 



Năm 1945 b, ông theo kháng chiến Nam bộ ở Vĩnh Long, khi Pháp trở lại , ông bị bịnh phải về Sài Gòn sống. Các tác phẩm  của ông về thơ , anh Sâm có xem qua, anh còn được biết chị Huỳnh Thiên Kim Bội, con gái ông ở CLB Người Yêu sách mấy năm trước khi anh về Việt Nam.

Tôi không sính thơ, nhưng yêu sách, được chị Kim Bội tặng sách tôi lấy làm thích thú, bởi hai quyển Việt Sử Diễn ca dày hơn 900 trang khổ lớn , in đẹp, lúc đầu nghĩ để chưng trong tủ kiếng, hôm tết rảnh rỗi lấy ra xem thì phát hiện ra đây là bộ sử quý. Phần chú thích ghi lại từng sự kiện giống như chuyện từng ngày của Đoàn Thêm mà có những chi tiết thú vị hơn. 

Thí dụ : Đại Nam Quốc sữ Diễn ca/ Vua truyền Ngô Cát viết ra lầu rồi.

Phần chú thích nhắc đến Đại Nam quốc sử diễn ca  do Lê Ngô Cát soạn ra khoảng năm 1865-1870 theo lệnh vua Tự Đức. Trương Vĩnh Ký là người  đem in bằng chũ quốc ngữ đầu tiên năm 1875 tại Sài Gòn.  Thiệt lòng là tôi học dốt không rõ việc này nay đọc quyển Việt Sử Diễn ca mới biết. Ông còn ghi chú thêm tiểu sử Lê Ngô Cát, sinh ở đâu, làm tới chức vụ gì ở triểu Nguyễn. Năm nay, phong trào đọc sử hơi rộ lên, gặp được hai  cuốn  Việt Sủ Diễn ca thật là điều may mắn. 

Đó là tôi mới giới thiệu 2 câu, trong trang đầu, 900 trang mà phần chú thích nhiều tương đương với phần diễn ca , nếu độc giả không thích diễn ca thì phần chú thích này cũng là phần thú vị, có nhiều kiến thức sử trong đó.

Vê sự kiện Bá Đa Lộc từ trần được diễn tả bằng thơ , hai câu đầu là Bá Đa Thị Nai tùng chinh/ Cảm hàn mang bệnh, bỏ mình tai ương. 

Phần chú thích: ngày 9/91799 Giám mục bá Đa Lộc tắt thở trên tay Giáo sĩ Lelabousse, thọ 58 tuổi. Mộ phần Bá Đa Lộc  ở Tân Sơn Nhứt, dân chúng gọi là Lăng Cha Cả. Quận công là tước vị vua phong cho công thần, Bá Đa Lộc được vua Gia Long phong làm Thái tử Thái phó Bi nhu Quận công.

Cuốn 1 bắt đầu từ Nguyễn Ánh chiến thắng Tây Sơn đến Gia Long thống nhất nước Nam, rồi thì  tới phần nói về nhà Nguyễn. Phần chiến tranh Việt Pháp thì không nói cũng biết, ông là công dân Việt thì lên án chế độ thực dân Pháp, ca tụng các cuộc khởi nghĩa chống Pháp như  cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên…

Để biết thêm về ông , tôi đọc thêm quyển Việt Nam Danh nhân bách thư thi vịnh. Đây là tập thơ mỏng có 41 bài vịnh 41 nhân vật cận đại. Sáu bài vịnh sự kiện đáng nhớ trong nước như : phải chăng Việt Nam mất nước vì giết đạo ? Vịnh Phong trào tẩy chay khách trú.  Vịnh Kinh tế khủng hoảng; Vịnh Việt Nam Quốc Dân đảng. . .



Đêm qua, có nói chuyện với anh Trần Ngọc, người có các bút danh Người Phương Nam, Thiện Phúc hiện ở Hoa Kỳ  cho biết, anh có được hai quyển Diễn ca cách đây mấy năm do GS Nguyễn Thanh Liêm, cựu thứ trưởng bộ Giáo Dục VNCH tặng (lúc còn sống) vì biết anh nghiên cứu về Đất Phương Nam. Thầy Liêm còn nói đây là bộ sách quý mà anh cần tham khảo. 

Sách hay dở tùy theo cách đánh giá của mỗi người, văn vần hiện nay không được độc giả ưa chuộng lắm điều đó không thể trách tác giả vì Huỳnh Thiên Kim là tác giả của đầu thế kỷ 20. Do đó, người thích sách xưa, giới nghiên cứu khi bắt gặp thì xem đây là báu vật. 

Hóc Môn 22/2/2023

LƯƠNG MINH, cựu nhà báo, tác giả sách Đời Chợ, NXB Trẻ 2000, Chợ tỉnh Chợ quê, NXB Hội nhà văn 2012

CLB Người yêu sách Nguyễn Huy Tưởng thuộc thư viện tư nhân miễn phí, là thư viện tư nhân PHẠM THẾ CƯỜNG,

Điện thoại: 0909 210 761

Địa chỉ : 352 đường số 8 phường 11 Gò Vấp TP Hồ Chí Minh

Giờ mở cửa: thứ hai, tư, sáu 19g15 đến 21g15

Chủ nhật: 14g30 đến 16g30









Nguyễn Thị Kim Thoa: THỜI GIAN, KHÔNG GIAN CỦA BÀ TÔI VÀ...

 THỜI GIAN, KHÔNG GIAN CỦA BÀ TÔI VÀ...

Khung cửa ngôi nhà tuổi thơ - ảnh Nguyên Phúc

“Thời gian thấm thoát thoi đưa/ Nó đi đi mãi chẳng chờ đợi ai”, ngày còn thơ tôi vẫn nghe bà nội dì của tôi nhắc nhở như vậy.

Tôi sinh ra ông bà nội ngoại đều không còn, thiếu vắng ông bà là một điều không may mắn cho bản thân, nhưng bù lại tôi có được bà nội dì rất thương yêu con cháu. Bà nội dì về làm vợ ông tôi khi bà nội tôi đã qua đời. Bà khỏe mạnh, đẹp lão, sống thọ, đám cưới tôi bà còn tham dự khi đã ngoài 90.

Khái niệm về không gian và thời gian của bà dường như chỉ là những khái niệm mơ hồ. Bà không biết đọc chữ, không biết những con số, thế nhưng ngày giờ, thời khắc của bà ít khi sai trật. Bà nhớ đúng ngày kỵ của ông bà nội, của ba, của hai chú tôi khi không xem lịch. Bà nhớ từng con ngõ đi lại trong thành phố, để rồi bà mô tả nơi đâu có cây cầu, nơi đâu có cái giếng cổ, nơi đâu có cái am thờ, cái miếu cũ...

Vào bếp đong đếm thời gian của bà thật lạ: Luộc chín một đòn chả thủ dài cỡ một tất rưởi, đường kính chừng nửa tất, thời gian là hai tuần hương (tàn hai cây hương cỡ hai tất rưởi). Quết cho nhuyễn hai lạng cá phát lát thời gian là tàn một điếu thuốc (điếu thuốc cẩm lệ). Nêm nếm thức ăn phải nhâm nhi nhiều lần trong khoảng thời gian nhai dập một bã trầu. Ướp muối môn bạc hà để nấu canh chua phải ướp trong chừng một tuần trà (uống xong một tách trà nóng), nếu để lâu môn sẽ mềm, mất độ giòn. Nướng cho nở vàng một khuôn chừng tám cái bánh thuẫn xem chừng cháy hết 5 phân con cúi rơm. Nấu bánh chưng bánh tét thời gian từ khi sao Hôm mọc đến lúc sao Mai lên. Ủ bột nếp in bánh phải ủ hai sương...

Nhìn bóng nắng, nhìn trăng sao, trông hoa nở, theo dõi trái bầu, trái bí, nhìn con nước lên, con nước xuống... bà tôi canh đếm thời gian. Hoa bưởi, hoa cau nở tháng ba, hoa ngâu nở tháng bảy, tháng mười có hoa mộc...Thế đó, thời gian của bà.

Không gian của bà chỉ là khoảng không gian từ nhà riêng gần chùa Từ Đàm đến nhà ông nội tôi ở Vỹ Dạ, nhưng với bà bầu trời bao la, dòng sông xanh sau nhà là tất cả. Bà thường hay nói “to bằng trời” để ám chỉ tội lỗi to lớn khi ai đó nói dối. “Dài như con sông” để ám chỉ nỗi nhớ mong dai dẳng...

Dài một sải tay, một gang tay, ngắn chừng một thốn tay, rộng chừng ba bước đi...Mặt trời lên một sào, hai sào. Mặt trăng lặn quá ngọn tre ... Đó là ngôn từ đo đếm của bà.

Những lúc rảnh rỗi bà thường ngâm nga những câu thơ, câu ca dao: “Đêm nay canh vạc về đâu/ Khói sương chưa dễ phai màu thời gian; hoăc: “Sao Hôm chờ đợi sao Mai/ Trách nhầm sao Vược thương ai băng ngàn”, “Đêm khuya cưởi xuống dần dần/ Sao Hôm xích lại cho gần sao Mai”, “Dần tảng sáng, Mão rạng đông”...

Sống với bà tôi quen dần với khái niệm thời gian, không gian mơ hồ như thế cho đến lúc vào học lớp năm (lớp một bây giờ) mẹ chỉ cho tôi xem giờ trên chiếc đồng hồ con gà, chị Hai dùng chiếc thước dây đo, cắt, may cho tôi chiếc áo đầm trắng để mặc trong ngày tựu trường đầu tiên. Chiếc đồng hồ con gà và sợi thước dây đã làm tôi thay đổi khái niệm về thời gian, không gian. Một vấn đề mới mẽ hình thành trong tâm thức tôi: cần độ chính xác trong đong đếm.

Mẹ thường nói: “Con vào học lúc 7 giờ 30 phút, mẹ để đồng hồ reo thức con dậy lúc 6 giờ, vệ sinh cá nhân, ăn sáng cho kịp đến trường”. Mẹ chỉ cho tôi kim ngắn, kim dài trên đồng hồ ở vị trí nào thì tôi phải rời nhà để đi học. Tôi vui thú khi nghe đồng hồ reo thay cho tiếng gà gáy sáng, tôi biết chính xác giờ phải rời nhà đi học, tôi biết giờ phải đi ngủ, tôi biết..., biết rất nhiều qua chiếc đồng hồ con gà ngày ấy.

Thời trung học, qua sách vở tôi biết: Đồng hồ Mặt trời có vào 3500 năm TCN, đồng hồ Sao vào 600 năm TCN, đồng hồ Nước của người Ai Cập vào 500 năm TCN, đồng hồ Nến xuất hiện vào những năm của thế kỷ thứ 6 ở Trung Hoa và Nhật Bản, đồng hồ Cát do tu sĩ người Pháp Luitprand ở nhà thờ lớn Chartres chế tạo vào thế kỷ thứ 8. Đến khi chiếc đồng hồ bỏ túi đầu tiên xuất hiện vào năm 1574 tại Thụy Sĩ, thì thời gian được tính minh định theo một qui ước chung.

Tôi còn biết: Người Việt xưa còn có qui định: đêm năm canh ngày sáu khắc: Canh là đơn vị thời gian đêm. Theo đó canh một là giờ Tuất (19 – 21 giờ), canh hai là giờ Hợi (21- 23 giờ), canh ba là giờ Tí (23 – 1 giờ), canh tư là giờ Sửu (1- 3 giờ), canh năm là giờ Dần (3 – 5 giờ).

Khắc là đơn vị thời gian ban ngày. Khắc một là giờ Mão (5 -7 giờ), khăc hai là giờ Thìn (7 – 9 giờ), khắc ba là giờ Tị (9 – 11 giờ), khắc tư là giờ Ngọ (11 – 13 giờ), khắc năm là giờ Mùi (13 -15 giờ), khắc sáu là giờ Thân (15 -17 giờ). Theo đó giờ Dậu (17 – 19 giờ) không thuộc về ngày cúng như đêm.

Nhưng rồi:

Khi tôi đọc được những vần thơ “Màu thời gian” của Đoàn Phú Tứ: “Màu thời gian không xanh/ Màu thời gian tím ngát/ Hương thời gian không nồng/ Màu thời gian thanh thanh...Duyên trăm năm đứt đoạn/Tình một thuở còn hương/Hương thời gian thanh thanh/ Màu thời gian tím ngát”.

Khi nghe “Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo” trong nhạc phẩm “Mùa Thu Chết” của Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ do Bùi Giáng dịch, thì khái niệm về thời gian và không gian của tôi không còn cố định trong chiếc đồng hồ con gà và sợi thước dây như trước.

Thời gian, không gian co dãn. Thời gian, không gian sâu lắng. Thời gian, không gian vời vợi...

Đọc “Những vì sao” của Alphonse Daudet tôi mơ mang về câu chuyện của chàng mục đồng và cô chủ nhỏ Stéphanette. Dãi Ngân Hà, sao Thiên Lang, sao Rua, sao Bừa Cào, sao Ba Ông Vua... Sự xuất hiện các ngôi sao đã cho chàng mục đồng biết giờ giấc của mình. Và tôi yêu thời gian cô chủ nhỏ ngã đầu trên vai chàng mục đồng đi vào giấc ngủ, mơ về bầu trời đầy trăng sao. Thời gian là mênh mông nhớ. Không gian là tiếng róc rách của những viên sỏi lăn dưới chân chú la khi băng qua con suối nhỏ.

Đọc “Hoàng Tử Bé” tôi nhớ cậu bé tóc xoăn vàng, nhớ con rắn, nhớ bụi hồng... Những nhân vật thoáng ẩn thoáng hiện giữa sa mạc. Thời gian là những thoáng mù mờ và không gian là quãng đi về giữa những vì sao, những tinh cầu.

...“Là gió trăm cây hay là cồn nước đọng/ Người không cười mà hoa cỏ gói trong tay/ Đường áo màu viền trắng cổ thơ ngây/ Màu thời gian người thu tròn giữa áo...” (Đẹp – Nguyên Sa). Mấy câu thơ đưa tôi trở lại ngày thơ, thời gian và không gian đầy cây cỏ lá hoa. Thời gian được đong đếm bằng những ước lệ huyền ảo mà có thật.

... “Khói đâu mờ tím căn buồng/ Thời gian ai đốt trên luồng thần giao?/ Cố đô lửa cháy gan nào?/ Sài đô son sắt như bào như nung”. Bốn câu thơ cuối của bài “Cành mai trắng mộng” của Vũ Hoàng Chương, thời gian, không gian ngày Tết Mậu Thân trở về với bao hình ảnh đau thương chết chóc. Sự việc đóng đinh vào những ngày đầu xuân 1968 nhưng thời gian và không gian đó như tồn tại mãi, mãi và mãi mãi...

... “Em đi rừng núi vào xuân/ Áo thiên thanh dệt trắng ngần hoa bay/ Búp lan dài mướt ngón tay/ Cả lâm tuyền nhớ gót giày phong hương”... (Hoa bay về ngàn – Đinh Hùng). Thời gian là mùa xuân, không gian một xóm Mán có cỏ thơm nếp lúa, có nắng ấm trên mái nhà sàn, có hoa phong lan và có nụ cười trong mây. Ôi! Thời gian và không gian đẹp đẽ khiến tâm hồn tôi thăng hoa theo từng con chữ.

... “Em mãi là hai mươi tuổi/ Ta mãi là mùa xanh xưa/ Những cây ổi thơm ngày ấy? Và vầng hoa ngâu mưa thu/ Tóc anh đã thành mây trắng/ Mắt em dáng thời gian qua”... (Em mãi tuôi hai mươi – Quang Dũng). Ở mãi tuổi hai mươi, ở mãi ngày xanh xưa dù tóc đã bạc màu và mắt xếp bao lần ngấn. Thời gian như muốn ngừng trôi, và thời gian cũng xóa mờ các dấu tích.

Từ một bé con mê mẫn chiếc đồng hồ con gà, thích thú với chiếc thước dây, tôi đã trải qua bao nhiêu là cảm giác, cảm xúc, suy tư về hai khái niệm này. Nhưng nếu chỉ với chiếc đồng hồ và cái thước dây thì Mẹ và chị Hai không thể cho tôi những bài học, những tấm áo thích nghi theo sự phát triển về cơ thể cũng như tâm sinh lý của tôi. Mỗi bài giáo huấn, mỗi chiếc áo đều đong đầy tình yêu thương và sáng tạo của Mẹ và Chị, thay đổi theo thời gian, không gian tôi lớn. Yêu thương và sáng tạo từ con tim, từ khối óc.

Mấy ngày gần đây đọc và nghe nói về ChatGPT, về Google, tôi lại nghĩ đến chiếc đồng hồ con gà và chiếc thước đây. Dù không biết nhiều về Trí tuệ nhân tạo (AI) nhưng tôi vẫn nghĩ: Nếu con tim không rung động và khối óc không hoạt động tích cực thì cho dù có mấy cái đồng hồ con gà, mấy chiếc thước dây, mấy cái ChatGPT, mấy cái gõ Google cũng không tạo nên sự phát triển hướng đến Chân Thiện Mỹ, để yêu con người, yêu cuộc sống muôn loài.

NGUYỄN THỊ KIM THOA

Triển lãm tượng đồng chân dung danh nhân - nghệ sĩ điêu khắc NGUYỄN SANG KIM THANH

TƯỢNG ĐỒNG nghệ sĩ điêu khắc NGUYỄN SANG KIM THANH Liên lạc: Nghệ sĩ điêu khắc KIM THANH Điện thoại: (+84) 0932.637.699 Zalo: (+84) 09326376...