NGUYÊN CẨN: Từ là khả năng hiến tặng hạnh phúc cho người khác. Yêu thương không phải là hưởng thụ, yêu thương là hiến tặng. Bi là khả năng giúp người ta bớt khổ và không làm cho người khác khổ vì cái khổ của mình. Hỷ là vui với cái vui của người khác. Xả là không phân biệt, kỳ thị trong tình yêu. Mình yêu ai, hạnh phúc của người khác là của mình, khổ đau của họ là của mình. Xả là trạng thái của tâm, khiến cho giữa ta và toàn thể chúng sinh và vạn vật không còn sự riêng biệt chia cách vạn vật, chúng sinh cùng với ta là đồng nhất thể. Ngoại cảnh, vũ trụ cùng vô lượng chúng sinh đã trở thành ta và ta đã trở thành chúng sinh và vũ trụ.
Phạm Văn Nga, sinh năm Bính Thân, 1956.
Tiến sĩ kinh tế, bút danh Nguyên Cẩn, sống tại Sài Gòn
Tác phẩm:
Văn học:
Gửi lại đôi dòng. Thơ. NXB. Văn Nghệ, 2002
Bụi phấn một đời. Thơ. In chung với Nghiêm Dũng. NXB. Đà Nẵng, 2003
Cuối đường mây trắng. Thơ. NXB. Thanh Niên, 2004
Gánh tình qua sông. Thơ. NXB.Thanh Niên, 2005
Nhìn sâu trong mắt. Thơ. NXB. Thanh Niên, 2006
Viết từ buồng phổi trắng. Thơ. NXB. Thanh Niên, 2007
Ngồi đợi gió sang canh. Thơ. NXB. Văn Nghệ, 2009
Sầu rụng thành hoa. Thơ. NXB. Văn Nghệ, 2011
Cà phê không đường 1. Tản văn. NXB. Thanh Niên, 2012
Bóng chữ trước đèn. Tản văn. NXB. Thanh Niên, 2013
Cà phê không đường 2. Tản văn. NXB. Thanh Niên, 2014
Đối thoại với hư không. Thơ. NXB. Thanh Niên, 2014
Sân không dấy bụi. Truyện ngắn. NXB. Hội Nhà Văn, 2015
Khung trời hội cũ. Thơ. NXB. Hội Nhà Văn, 2015
Cà phê không đường 3. NXB. Hội Nhà Văn, 2018
Chuyện một thời. Truyện ngắn. NXB. Hội Nhà Văn, 2018
Thơ Nguyên Cẩn. NXB. Hội Nhà Văn, 2018
Đi tìm tiếng vọng. Biên khảo. NXB. Hội nhà Văn, 2018
*In nhiều thơ, bài báo, khảo luận, phê bình văn học trên các tạp chí trong và ngoài nước như Văn hoá Phật giáo, Giác Ngộ, Phật học Từ Quang, ...
-----------------
NGUYÊN CẨN – HỌC GIẢ THỜI HIỆN ĐẠI
Bài của Lương Minh đăng 03/08/2021
Tôi biết Nguyên Cẩn từ khi tôi tham gia với Quán Văn, đi chơi với anh nhiều chuyến từ Nam chí Bắc nhưng tôi chẳng biết gì về anh cả. Có đọc vài bài thơ và truyện ngắn anh đăng trong tạp chí này , tôi biết anh viết rất sung nhưng thú thật không gây ấn tượng nào cho tôi cả. Biết anh làm thơ thuộc loại có nghề, tám tập thơ trong vòng mười năm từ 2002 đến 2012 và là nhà văn với nhiều tập truyện ngắn, tản văn. Tình cờ hôm rồi ra đường sách Sài Gòn tôi gặp được quyển “ Bóng chữ trước đèn” , tập tản văn của anh đem về đọc một mạch. Với 23 bài nhận định về các tác giả Kim Dung, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện; từ Nguyễn Du cho tới Lý Bạch, từ Nietzsche đến Heidegger, những tác gia mà ngày xưa bọn sinh viên chúng tôi từng ngưỡng mộ.
Bàn về Kim Dung, Nguyên Cẩn nói đến nhiều vấn đề , từ thiện ác , lòng tham, quả báo, thiền tông, trong đó tác giả dẫn chứng từ Cô gái Đồ Long đến Tiếu ngạo giang hồ. Nếu không đọc hết những tác phẩm của Kim Dung thì khó có thể xỏ xâu những nhân vật có lòng tham như Mộ Dung Phục, Nhạc Bất Quần, Tả Lãnh Thiền đã bỏ mặc tình cảm, đạo đức hầu làm sao đạt đến cái ngôi minh chủ hay ngôi vị hoàng đế mà họ hằng mong muốn. Những câu chuyện tình cảm hay ân oán giang hồ đều được Nguyên Cẩn soi nhìn với góc độ của người am tường Phật pháp.
Anh đã có cơ duyên trong đời vì gặp Bùi Giáng lúc còn là học sinh trung học. Năm 1972 anh đi dạo khu bán sách cũ, gặp một lão già đem bán mấy cuốn sách dịch của Bùi Giáng cho bà bán sách cũ. Bà không mua dù người có sách chỉ bán sách bằng nửa giá bìa. Thấy lạ, anh liếc mắt nhìn thì thấy quyển sách giấy còn mới tinh, quyển Hoàng tử bé và Cõi người ta là những cuốn sách mà anh thường đọc trộm trong các nhà sách nên đã dốc hết tiền trong túi ra để mua. Người bán sách chính là Trung niên thi sỹ, cần tiền để uống rượu nên lấy sách của mình đem bán. Thy sỹ còn hỏi thằng nhỏ, mầy mua sách rồi còn tiền để đi chơi không? Thằng nhỏ nói, dạ hết rồi. Không biết có phải vì khoái thằng nhỏ ham đọc sách hay khoái người thích văn mình mà Bùi Giáng đã rủ thằng nhỏ này đi uống rượu với mình. Đây là cuộc hội ngộ đầu tiên của chàng học trò mê văn chương với ông thy sỹ nổi tiếng điên khùng nhất thời bấy giờ. Trong khi nhậu, Bùi Giáng còn móc ra trong bọc ra bốn cuốn sách nữa đó là Tư tửơng hiện đại, Đường đi trong rừng, Lá hoa cồn và Sa mạc phát tiết đem tặng cho chàng trẻ tuổi mà sớm biết đọc sách này. Đó là điều thích thú và không ngờ đối với Nguyên Cẩn. Điều thích thú tuyệt đỉnh là khi cho thằng bé này , Bùi Giáng còn ký tặng với dòng chữ Kính tặng ngài Văn Nga ( tên thật của Nguyên Cẩn).
Năm năm sau, khi đã là sinh viên đại học Sư Phạm, Nguyên Cẩn còn tái ngộ với ông thầy dạy văn họ Bùi tại khuôn viên trường ĐHSP (ĐH Vạn Hạnh cũ). Ông hỏi Nguyên Cẩn, mầy học gì? Anh trả lời dạ học triết. (Thực tế là anh học năm thứ 3 khoa Anh Văn ). Bùi Giáng bảo, mày theo tao, tao dạy cho. Thế là vì tò mò , vì máu nghệ sĩ nổi lên, anh theo ngay. Một buổi truyền dạy triết giữa một thầy , một trò tại vĩa hè trên đường Lê Văn Sỹ với chai rượu đế và dĩa mồi mọn. Thầy giảng huyên thuyên về thơ chữ Hán, từ đời Đường cho tới đời Tống , lại sang cả lĩnh vực chính trị khiến trò trơ mắt ra nhìn có cái được cái không. Lúc đó , Nguyên Cẩn thấy “ông thầy” của mình không điên chút nào, mà còn minh mẫn đến lạ thường.
Câu chuyện Bùi Giáng thu nạp Nguyên Cẩn làm đệ tử giống hệt như những câu chuyện chàng thiếu hiệp được lão tiền bối cao thủ truyền võ công trong tiểu thuyết chưỡng của Kim Dung. Không biết “võ học” của Báng Giùi lão nhân đã chảy sang chàng thiếu hiệp Văn Nga này bao nhiêu thành công lực (?)
Có lẽ ảnh hưởng hành trạng của Bùi Giáng quá lớn nên sau này Nguyên Cẩn làm thơ phần nhiều cũng ảnh hưởng triết học và Phật học. Không rành về thơ ca, chỉ đọc tập thơ Sầu rụng thành hoa, tôi đã thấy những tựa bài thơ như Vẫn phải trầm luân, Thực và mộng, Nửa đêm tụng chú, Miên man cõi tịnh, Niệm tôi tôi niệm là đã thấy anh thấm nhuần tư tưởng Phật giáo mà không cần phải đọc hết các lời hay câu thơ trong đó. Có lần anh thố lộ từ những kiến thức Phật học nền tảng của gia đình đã thôi thúc anh nghiên cứu nhiều kinh Phật, thu tóm được nhiều yếu chỉ nhờ vậy anh có hàng loạt bài viết cho Văn Hóa Phật giáo một tạp chí chuyên về đạo Phật mà nhiều vị thượng tọa hay học giả về thiền hay viết.
Gặp anh ở quán cà phê và trong các chuyến đi du lịch với Quán Văn, anh không bao giờ nói chuyện về đạo Phật, nhưng thỉnh thoảng tôi lại thấy bài viết của anh trong Văn hóa Phật giáo, Từ Quang, nguyệt san Giác Ngộ, bàn về những vấn đề của thời đại như đạo lý, thái độ kẻ sĩ, chữ hiếu. . .
Tìm đọc những bài anh viết tản mạn về Kiếm hiệp, về triết học, về kinh Phật trong Bóng chữ trước đèn mới biết được sức đọc của anh công phu biết là dường nào ! Anh đã thấy được Lệnh Hồ xung phong trần, lãng tử; Dương Qua phiêu bạt thong dong trên đường hành hiệp; Đoàn Dự ham mê nghiền ngẫm kinh Phật; Hư Trúc có ước mơ giản dị , theo anh đó là những kẻ đã đi qua sáu cửa vào động Thiếu Thất.
Trong xã hội chúng ta thuờng gặp hai loại người, loại thứ nhất học vị cao ngất trời nhưng khi tiếp xúc nhiều lần chúng ta thấy buồn vì họ chẳng có kiến thức gì , toàn là đạo văn và copy của người khác mà không nói rõ ràng để mọi người lầm tưởng là của mình, Nguyên Cẩn mà tôi thấy ở trường hợp thứ hai, mới nhìn và gặp cũng bình thường như bao người khác, qua thời gian , qua bài viết mới thấy anh là người biết nhiều ở các lãnh vực, phải chăng anh bị những tiếng hét của các sư tử Bùi Giáng, Phạm Công Thiện mà hốt ngộ và cố tâm chuyên cần khổ luyện.
Lương Minh
-----------------------------
NGUYÊN CẨN: Mùa xuân, tản mản về hạnh phúc
Mỗi độ xuân về, chúng ta thường nghe mọi người chúc nhau là xuân như ý, thành công, tiền bạc dồi dào, nhưng cái cuối cùng họ muốn chúc nhau là hạnh phúc, vì phải chăng những thành đạt vật chất cuối cùng cũng quy về hạnh phúc?
Có ai chúc nhau “thịnh vượng” mà lại chẳng “an khang” đâu, nhất là sau một năm đầy biến cố như 2020 mà chúng ta vừa đi qua, bất an và đầy phiền muộn. Một năm mà cả thế giới loay hoay, trăn trở, chiến đấu vất vả với đại dịch Covid-19. Khi viết bài này thì số người chết đã hơn 1,7 triệu và số ca nhiễm hơn 80 triệu. Nguy hiểm hơn là vào những ngày cuối năm khi nhân loại chưa kịp vui mừng với sự có mặt của vài loại vaccine do cả Nga và Mỹ sản xuất mang theo hy vọng cứu rỗi nhân loại, thì lại nghe những thông tin về biến thể mới của virus xuất hiện ở Anh quốc và châu Phi (?). Nhiều nước dịch cũng bùng phát mạnh trở lại. Nền kinh tế thế giới đã lao dốc, chìm trong suy thoái. Từ điển Colline đã gọi “lockdown” (phong tỏa) là từ khóa của năm 2020. Đó là nguyên nhân của hàng trăm triệu người thất nghiệp. Người ta tính có đến hơn 135 triệu người cần cứu đói trên thế giới. Riêng ở Việt Nam, theo thống kê, hơn 30 triệu người mất hay không có việc làm. Chưa kể, chúng ta đang sống những ngày cuối mùa đông với những bất trắc của thời tiết, có cả thiên tai và nhân tai, với bao con người ở miền Trung vừa trải qua những cơn lũ quét, đã có người chết, đã tổn hại biết bao hoa màu và cây trái. Nhưng chúng ta cũng còn may mắn vì dù sao cũng đã khống chế về cơ bản được sự bùng phát của đại dịch trong cộng đồng bằng nỗ lực chung và riêng của từng cá nhân và cả xã hội, thêm biện pháp mạnh từ phía chính quyền. Đặc biệt, trong cơn khốn khó ấy, chúng ta thấy lóe lên những điểm sáng, từ những cây ATM gạo ở TP.Hồ Chí Minh và một vài tỉnh lân cận, đến ATM khẩu trang… Rồi từng đoàn người kéo nhau ra miền Trung cứu trợ bão lũ. Hình ảnh những Tăng Ni hay cô ca sĩ, cậu sinh viên vượt dòng nước xoáy đem quà cứu trợ đến tận tay những người dân vùng rốn lũ, làm nhiều người cảm động. Dù cực khổ nhưng họ rất vui, nụ cười nở trên môi với ánh mắt chất chứa nhiều thương cảm. Tất cả nói lên rằng hạnh phúc đến không chỉ từ nhưng thu hoạch về tiền tài vật chất cá nhân mà còn ở sự biết cho đi, sự cống hiến cho cộng đồng.
Hạnh phúc đến từ đâu?
Trong một bài viết gần đây trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, tác giả Lê Hữu Huy nhận định: “Hạnh phúc mà chúng ta cảm nhận được sau một sự kiện hoặc hoạt động cụ thể sẽ giảm đi sau mỗi lần trải nghiệm, một hiện tượng mà thuật ngữ tâm lý gọi là ‘sự thích nghi mang tính khoái lạc’ (hedonic adaptation). Thế nhưng cảm nhận hạnh phúc sẽ không giảm hoặc giảm chậm hơn nếu chúng ta cho người khác một cái gì đó. Đây là kết luận từ công trình nghiên cứu của Ed O’Brien, phó giáo sư về khoa học hành vi tại Trường Kinh doanh Booth thuộc Đại học Chicago và Samantha Kassirer, nghiên cứu sinh tiến sĩ của Trường Quản lý Kellog thuộc Đại học Northwestern (Mỹ).
Trong một đợt khảo sát, hai tác giả phát cho những người tham gia là sinh viên mỗi ngày 5 đô-la trong năm ngày và yêu cầu họ tiêu tiền cho bản thân hay cho người khác, chẳng hạn hàng ngày để tiền trong lọ tiền tip tại cùng một quán cà phê hoặc đóng góp trực tiếp cho cùng một tổ chức từ thiện. Những người tham gia sẽ phản ánh trải nghiệm chi tiêu và mức độ hạnh phúc nói chung của mình vào cuối ngày.
Dữ liệu từ tổng số 96 sinh viên cho thấy mô thức những người tiêu tiền cho bản thân cho biết mức độ hạnh phúc giảm đều trong năm ngày nhưng hạnh phúc không hề giảm hay giảm chậm hơn với những ai đã trao tiền cho người khác. Niềm vui từ việc cho đi trong lần thứ năm liên tiếp cũng mạnh mẽ như lúc bắt đầu”. (Lê Hữu Huy, Hạnh phúc từ sự cho đi và những mô thức của lòng nhân, TBKTSG số 51 ngày 17-12-2020).
Tác giả kể rằng sau đó hai nhà nghiên cứu tiến hành đợt khảo sát thứ hai theo hình thức trực tuyến với 502 người cũng với phương thức cho tiền và để họ sử dụng theo ý mình lựa chọn. Một lần nữa mức độ hạnh phúc của những người đã cho đi số tiền của mình không giảm hay giảm chậm hơn nhiều so với những người giữ lại tiền. Hai tác giả kết luận rằng cho đi trở thành một sự kiện duy nhất để tạo ra hạnh phúc. “Ngoài ra việc cho đi cũng giúp ta duy trì uy tín xã hội, củng cố cảm giác liên kết và sở hữu”.
Từ đó, chúng ta có thể hiểu ý nghĩa của những hoạt động từ thiện. Từ thiện là sự tự nguyện giúp đỡ những người gặp khó khăn. Trong tiếng Anh, từ “charity” có nguồn gốc từ tiếng La-tinh “carus”, có nghĩa là người khác; sau đó là “caritas”, một từ thường được dùng trong Tân ước với ý nghĩa “tình yêu của Chúa Kitô với đồng loại”. Theo thời gian, nó mang ý nghĩa “sự hào phóng và hay giúp đỡ” (theo Merriam Webster), hoặc là tổ chức từ thiện. Từ "caritas" còn thường được dịch là “lòng bác ái”.
Trở lại với Phật giáo, bố thí (dana) là bất kỳ hành động nào từ bỏ quyền sở hữu với những gì được coi là của mình. Nhà Phật chia làm ba hình thức: tài thí, pháp thí và cao nhất là vô úy thí.
Có ba trạng thái tâm khi bố thí. Một là bố thí để nhận lại một cái gì khác. Hai là bố thí để được khen ngợi, công nhận đức hạnh. Đây là trạng thái tâm ban đầu khi bố thí của đại đa số chúng ta. Vì thông thường, sự cho đi luôn cần sự nhận lại theo mọi cách. Nhận từ vật chất hay tinh thần, từ những suy nghĩ vi tế từ trong tâm. Sự bố thí nào cũng đáng ca ngợi vì bản chất đẹp là sự bố thí và cho đi cái của mình đang có. Ba là bố thí ba-la-mật. Bố thí ba-la-mật là sự bố thí cùng tột mà người thực hành phải thật sự đạt được “tánh không” mới có thể thực hành được một cách đúng nghĩa và trọn vẹn công đức lành của việc thực tập bố thí ba-la-mật.
Từ thiện, bố thí là pháp tu nhằm nuôi dưỡng và phát triển lòng từ bi, nền tảng căn bản của Bồ-tát đạo. Hành giả tu học Phật hướng đến giác ngộ, giải thoát, thành tựu đạo quả Vô thượng Bồ-đề phải trải qua quá trình hành Bồ-tát đạo trong đó có việc cứu độ chúng sinh. Trong kinh Tăng chi bộ, Đức Phật dạy: “Có người bố thí với tâm không mong cầu, bố thí với tâm không trói buộc, bố thí không với ý nghĩ ‘ta sẽ hưởng thọ cái này ở đời sau’, chỉ bố thí với ý nghĩ ‘lành thay sự bố thí’”.
Kinh Hoa nghiêm nói: “Bồ-tát là nhà đại thí chủ, có bao nhiêu của cải bình đẳng thí cho chúng sinh mà không hối tiếc, chẳng mong quả báo, chẳng cầu danh vọng, chẳng cầu sinh về chỗ tốt hơn, chẳng cầu lợi dưỡng. Bồ-tát chỉ muốn cứu độ tất cả chúng sinh, muốn mang lại lợi ích cho chúng sinh, muốn học theo bổn hạnh của các Đức Phật, muốn thọ trì bổn hạnh của các Đức Phật và muốn khiến tất cả chúng sinh lìa tất cả khổ, được vui rốt ráo”.
Từ đó cho thấy, pháp bố thí mang lại cả phước báo hữu lậu và vô lậu. Nếu bố thí với tâm chấp thủ thì được phước báo hữu lậu. Nếu bố thí với tâm vô cầu, vô trụ chấp thì được phước báo vô lậu.
Những câu chuyện về tiền thân Đức Phật được ghi lại trong kinh Bổn sinh (Jātaka) cho biết, trong vô lượng kiếp khi còn hành Bồ-tát đạo, Đức Phật đã dấn thân phụng sự đạo pháp và chúng sinh, từng bố thí tài sản, sự nghiệp, vợ con, thậm chí cả thân mạng để làm lợi ích cho chúng sinh. Đức Phật dạy trong kinh Niết-bàn như sau: “Đại từ đại bi gọi là Phật tánh. Từ tức Như Lai, Như Lai tức từ. Tâm từ bi là tâm Phật, vậy muốn trở thành Phật không thể không có tâm từ bi.” (Chương V, phẩm Sumanā).
Xuân Di Lặc - Xuân hạnh phúc trong Tứ vô lượng tâm
Đức Phật Thích Ca dạy rằng tiếp theo thời Tượng pháp là thời Mạt pháp, thời giáo pháp suy đồi và mai một. Khi đó một Đức Phật khác sẽ ra đời để khai mở cho nhân loại một kỷ nguyên Chánh pháp mới: đó là Đức Phật Di Lặc. Thiền sư Nhất Hạnh gọi Ngài là “một nhà văn hóa có đầy đủ chánh biến trí, có đủ đại hùng, đại bi, đại nguyện, như thế, con người cấp thiết của thế kỷ chúng ta.” (Thích Nhất Hạnh, Đạo Phật đi vào cuộc đời, Lá Bối, 1964). Di Lặc, tiếng Phạn là Maitreya, dịch là Từ Thị (người có lòng từ). Theo Đại Nhật kinh sớ, quyển 1, chữ Từ là lòng từ, là chi đầu tiên trong Tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả). Lòng từ này có trong chủng tánh của Như Lai, bao gồm cả: Chúng sanh duyên từ, Pháp giới duyên từ và Vô duyên từ. Từ trong nghĩa Từ Thị là Vô duyên từ. Tức lòng từ không đợi có một ngoại duyên nào tác động làm cho lòng từ phát khởi. Mà tâm từ đó đã có sẵn một cách tự nhiên, rộng rãi, bao dung, bình đẳng, vô phân biệt.
Từ là khả năng hiến tặng hạnh phúc cho người khác. Yêu thương không phải là hưởng thụ, yêu thương là hiến tặng. Bi là khả năng giúp người ta bớt khổ và không làm cho người khác khổ vì cái khổ của mình. Hỷ là vui với cái vui của người khác. Thói thường người đời vì ích kỷ và tư lợi, vì ganh tị, vì tham, sân, si mà trong lòng không có được đức hỷ, không thể chia niềm hỷ lạc với kẻ khác khi thấy họ vui do một thành công nào của họ. Xả là không phân biệt, kỳ thị trong tình yêu. Mình yêu ai, hạnh phúc của người khác là của mình, khổ đau của họ là của mình. Xả là trạng thái của tâm, khiến cho giữa ta và toàn thể chúng sinh và vạn vật không còn sự riêng biệt chia cách vạn vật, chúng sinh cùng với ta là đồng nhất thể. Ngoại cảnh, vũ trụ cùng vô lượng chúng sinh đã trở thành ta và ta đã trở thành chúng sinh và vũ trụ.
Tôi đã nguyện yêu trần gian nguyên vẹn
Hết tâm hồn và hết cả da xương
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng sâu bọ cũng yêu luôn.
(Bùi Giáng)
Ta đã đồng thể hóa với toàn thể chúng sinh và vạn vật bằng cách xóa bỏ sự đối chiếu, sai biệt giữa ta và ngoại cảnh, xóa bỏ bởi vì đã diệt ngã. Diệt ngã là không còn lựa chọn, đối chiếu, thọ nạp, luyến ái, bám giữ, tàng trữ; không còn lấy cái ta làm tiêu chuẩn, làm chỗ chứa đựng. Người có được tâm xả đã trở thành như một tấm gương trong. Tình yêu dành cho tha nhân phải hội tụ đủ bốn yếu tố: từ, bi, hỷ, xả. Tình yêu chân thật phải làm cho người khác vui. Dấu ấn của tình yêu đích thực là niềm vui. Từng cá nhân, gia đình và cả cộng đồng cùng hạnh phúc. Cuộc nhân duyên như thế là thành công. Từ tình yêu "nhỏ" như Xuân Diệu viết:
Xuân của đất trời nay mới đến
Trong tôi, xuân đến đã lâu rồi
Từ lúc yêu nhau, hoa nở mãi
Trong vườn thơm ngát của hồn tôi.
(Xuân Diệu, Nguyên đán)
Tình yêu đã đánh thức tâm hồn nhà thơ để vui với từng cánh hoa nở. Ta chợt nhớ tới một nhà thơ khác cũng cảm ơn hoa khi anh trở về sau những ngày “học tập”, cảm thấy đất trời như muốn cảm thông với mình:
Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi.
(Tô Thùy Yên, Ta về)
Vì anh cũng thấy vui khi sẽ dự
…Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chén rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc bể dâu này.
Anh đã “xả” nỗi oán thù trong lòng và hòa nhập cộng đồng trong tâm thức “đồng nhất thể”
Kinh điển ghi Di Lặc là vị Phật của hạnh hỷ xả. Hỷ xả là chất gắn kết mọi người trong tình thương yêu, mang lại an lạc, hạnh phúc cho cộng đồng. Bản chất tâm thức của mọi loài chúng sinh là chấp thủ. Do vậy, khổ đau là điều không tránh khỏi.
Chỉ khi nào trong chúng ta luôn có sự hiện hữu của tâm hỷ xả, biết buông bỏ những cố chấp hẹp hòi, vị kỷ, xóa bớt những hận thù oan trái thì lúc ấy chúng ta mới cảm nhận được niềm an lạc thật sự. Chừng đó mới có thể xây dựng được một cộng đồng trong tinh thần hỷ xả và từ bi.
Hãy hướng về mùa xuân Di Lặc với cảm nhận về hạnh phúc trong Tứ vô lượng tâm.
Nguyên Cẩn/Nguyệt san Giác Ngộ
Nguyên Cẩn

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét