Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

Triển lãm tượng đồng chân dung danh nhân - nghệ sĩ điêu khắc NGUYỄN SANG KIM THANH



TƯỢNG ĐỒNG nghệ sĩ điêu khắc NGUYỄN SANG KIM THANH

Liên lạc: Nghệ sĩ điêu khắc KIM THANH

Điện thoại: (+84) 0932.637.699 Zalo: (+84) 0932637699

Email: nskimthanh9@gmail.com

824/45 Sư Vạn Hạnh, phường Hoà Hưng, TP.HCM



Nghệ sĩ điêu khắc NGUYỄN SANG  (1957 – 2022)
Nghệ sĩ điêu khắc LẠI THỊ KIM THANH sinh năm 1960
  • Hội viên Hội Mỹ Thuật Tp.HCM
  • Hội viên CLB MeKong Art
  • Thành viên Viện Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hoá Dân tộc
  • Нọc điêu khắc với Nhà điêu khắc TÔ SANH  năm 2003    
Nghệ sĩ điêu khắc Lại Thị Kim Thanh và Nguyễn Sang là đôi bạn học, bạn đời, bạn nghề, bạn nghệ sĩ, đã cùng nhau tiến bước trên con đường nghệ thuật, cùng hỗ trợ nhau trong công việc cũng như trong sự nghiệp. Tác phẩm chính của cả hai nghệ sĩ là tượng chân dung các Anh hùng dân tộc, Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, Danh nhân Văn hoá, Nhà khoa học, Nhà giáo, Nhà văn, Nhà thơ, Nhạc sĩ, Hoạ sĩ, Bác sĩ, kỷ lục gia ...                    
Gần 20 năm qua (2004 – 2023) hai Nghệ sĩ điêu khắc Lại Thị Kim Thanh và Nguyễn Sang đã tham gia triển lãm chung trên 100 lần,  nghệ sĩ Kim Thanh triển lãm riêng hơn 10 lần tại Bảo tàng Mỹ thuật Tp.HCM, Bảo tàng lực lượng vũ trang Quân Khu 7, Hội Mỹ Thuật Tp. HCM, Khu du lịch Văn Thánh, Nhà Triển lãm Tiền Giang, … 

Khen thưởng

  • 2006 NGUYỄN SANG KIM THANH được ghi danh vào Viện Tiểu sử Quốc tế (International Biographical Centre, Cambridge, Anh) và Viện Tiểu sử Hoa Kỳ (American Biographical Institute – ABI) ghi nhận thành tựu nghệ thuật xuất sắc của nghệ sĩ đóng góp vượt trội cho cộng đồng trong lĩnh vực điêu khắc chân dung danh nhân anh hùng dân tộc
  •  Bằng khen UBND tỉnh Long An, Chủ tịch Đỗ Hữu Lâm ký ngày 20.01.2012
  • Bằng khen UBND tỉnh Long An (thành tích đóng góp thiết kế và xây dựng tượng đài Mẹ Việt Nam Anh Hùng trên đất Long An) ký ngày 14.04.2015
  • Bằng khen UBND tỉnh Long An, Chủ tịch Đỗ Hữu Lâm ký ngày 05.04.2013
  • Giấy khen của UBND TPHCM, UBND tỉnh Long An và Hội cựu học sinh Đức Hoà
  • Giải thưởng Đào Tấn tặng nhà điêu khắc Kim Thanh đã có thành tích xuất sắc trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc Việt Nam, ký ngày 19.08.2015
  • Giải thưởng Đào Tấn tặng nhà điêu khắc Nguyễn Sang năm 2022, ký ngày 18.05.2023
  • Bằng khen Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ký ngày 20.05.2023
Có tượng đặt tại các đền thờ và các bảo tàng:
  • Mẹ VNAH Trần Thị Viết, Vĩnh Hưng, Long An
  • Mẹ VNAH Nguyễn Thị Rành, Củ Chi, TPHCM
  • Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ
  • Bảo tàng Quảng Nam
  • Bảo tàng Côn Đảo, TPHCM
  • Nhà lưu niệm Á Nam Trần Tuấn Khải
  • Nhà lưu niệm Bích Khê Quảng Ngãi
  • Nhà thờ Phan Văn Trị
  • 16 tượng đài trường học mang tên các AHDT


Thứ Ba, 27 tháng 1, 2026

Mèo mù Kẹo Dừa và mèo Củ Gừng Nhỏ FB Mèo Ngáo Ngơ


 T từng có một em bé mèo mù, tên Kẹo Dừa.

T gặp em trong chuyến về miền Tây, ở ké nhà người quen và chỉ có duy nhất 1 đêm ngủ lại rồi quay ngược lên TP. Trong buổi sáng ấy, t nghe tiếng mèo con trong đống củi khô sau vườn. Túm được em, là một bé con lông bị nhọ nồi và bụi bẩn làm dơ hèm, 2 mắt sưng to, người đầy bọ chét. 

T lau người cho em bé. Trắng tinh, nhỏ xíu, đáng yêu. T gọi em là Kẹo Dừa, là chút ngọt mà cuộc đời mang đến. 

Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2026

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư kể chuyện áo dài

 

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư kể chuyện áo dài

click vào xem hình cỡ lớn

click to view full size

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư (sinh năm 1920) chuyên ngành sử học, địa chí Nam Bộ Việt Nam, nổi tiếng với tinh thần làm việc miệt mài dù đã ngoài 100 tuổi. Ông quê ở huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Không mang học hàm học vị nào, nhà nghiên cứu này vẫn sở hữu gia tài đồ sộ về tri thức với hơn 60 đầu sách nghiên cứu về văn hóa, lịch sử, địa chí, như bộ tiểu thuyết lịch sử Loạn 12 sứ quân, Từ điển địa danh hành chính Nam Bộ, Chế độ thực dân Pháp trên đất Nam Kỳ (1859-1954), Địa chí hành chính các tỉnh Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1859-1954), Gia Định - Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, dặm dài lịch sử (1698-2020)…Hiện nay 106 tuổi ông vẫn minh mẫn tiếp tục viết sách nghiên cứu mỗi ngày.

Researcher Nguyễn Đình Tư (born in 1920) specializes in history and the regional studies of Southern Vietnam. He is well known for his tireless work ethic, even after the age of 100.

He was born in Thanh Chương District, Nghệ An Province. Despite holding no formal academic titles or degrees, this researcher possesses a vast intellectual legacy, with more than 60 research publications on culture, history, and regional geography. His works include the historical novel series The Turmoil of the Twelve Warlords, Dictionary of Administrative Place Names in Southern Vietnam, The French Colonial Regime in Cochinchina (1859–1954), Administrative Geography of the Provinces of Cochinchina during the French Colonial Period (1859–1954), and Gia Định – Sài Gòn – Ho Chi Minh City: A Long Historical Journey (1698–2020).

Now at the age of 106, he remains sharp-minded and continues to write scholarly works every day.

Áo dài cưới

 Áo dài cưới truyền thống


A wedding áo dài is a traditional áo dài reserved specifically for the bride. It is prepared by the groom’s family and placed in the ceremonial wedding trays (mâm quả) that are carried to the bride’s home during the bridal procession (the wedding ceremony). This is not merely a garment, but a ritual offering with legal and ceremonial significance, representing the legitimacy of the marriage according to traditional Vietnamese customs.

Marriage is a momentous matter. A well-fitted wedding áo dài reflects the groom’s family’s careful preparation and their respect for the bride from the very beginning. According to folk belief, the wedding áo dài symbolizes destiny and marital union. Having it tailored in advance and made to fit properly signifies harmony and thoughtful preparation. Therefore, altering the áo dài after it has been formally presented is traditionally considered taboo.

The áo dài described here was made from fabric purchased at Thủ Đức Market, embroidered with apricot blossoms symbolizing good fortune. It was carefully tailored by an experienced female seamstress in Linh Trung Ward, with several parts meticulously hand-sewn to ensure a perfect fit without the need for later alterations.

Before the groom’s family brings the wedding trays to the bride’s home, the bride may wear a different áo dài while waiting. The girl in the photo is wearing a red áo dài embroidered with motifs of a young woman in a traditional áo dài strolling joyfully to welcome spring.

When the groom’s family brings the wedding áo dài to the bride’s home, it signifies the formal acceptance of the bride into the groom’s family as a daughter-in-law. The wedding áo dài is usually placed in a separate tray, known as the áo dài tray or sính y tray. The garment is neatly folded, wrapped in red cellophane, and covered with a red cloth, sometimes accompanied by a khăn đóng or head wrap and wedding shoes. This tray is often positioned at the front or center of the procession, highlighting its ceremonial importance.

Traditional colors:

Red, pink, yellow, and orange-red — symbolizing joy, good fortune, and prosperity.

Design:

The traditional two-panel áo dài with a high collar and long sleeves.

Motifs with auspicious meanings:

Dragons and phoenixes (marital harmony); lotus and peony flowers (blessings, nobility, purity); the Double Happiness character or the character for good fortune.

Today, modern variations are possible, but the solemn and respectful spirit is always preserved.

The bride wears the wedding áo dài prepared by the groom’s family during:

– The bridal procession

– The ancestral rites ceremony

– The formal introduction to the groom’s relatives

Afterward, the bride may change into another outfit for the wedding banquet or reception.

Cultural and symbolic value:

The wedding áo dài in the ceremonial trays is not merely a gift; it is:

– A symbol of a legitimate marriage

– A milestone marking a woman’s transition in social status

– A ritual bond connecting two families



Thứ Năm, 22 tháng 1, 2026

Di sản Vương Hồng Sển: Đã đến lúc cần một sự vinh danh xứng đáng

 

Sách của nhà văn hoá Vương Hồng Sển, NXB Trẻ (ảnh Minh Hoà)

Bài đã đăng trên website tạp chí Người Đô Thị, https://nguoidothi.net.vn/di-san-vuong-hong-sen-da-den-luc-can-mot-su-vinh-danh-xung-dang-51462.html

Đây là bản thảo đầy đủ:

Di sản Vương Hồng Sển: Đã đến lúc cần một sự vinh danh xứng đáng

Bài: Lê Ngọc Hân, ảnh Minh Hoà

Nhân kỷ niệm 30 năm ngày mất của Ông Vương Hồng Sển (1996 - 2026), tạp chí Xưa & Nay phối hợp cùng Bảo tàng Lịch sử TP.HCM, Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM và Nhà xuất bản Trẻ tổ chức buổi tọa đàm với chủ đề “Trăm năm Sử Việt” toạ đàm về nhà văn hóa Vương Hồng Sển sáng ngày 22.01.2026 nhằm tưởng nhớ và nhìn lại những đóng góp của ông đối với đời sống văn hóa học thuật nước nhà.

Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2026

Tem áo dài tứ thân áo dài năm thân


 Four-Panel Áo (Áo Tứ Thân) and Five-Panel Áo (Áo Năm Thân) are traditional Vietnamese long tunics dating back to around the 17th century. They belong to the family of long, side-slit outer garments.


ÁO TỨ THÂN (FOUR-PANEL ÁO)

This was the traditional daily attire of women in Northern Vietnam, commonly worn in rural areas until the 1930s. The back of the garment consists of two panels joined together, while the two front panels are separate, allowing them to hang loose or be tied together in front of the abdomen. The cut is loose-fitting, with simple, subdued colors.

The outfit was typically worn with a colored silk sash, a silver xà tích (ornamental chain), a silk bodice (yếm), hair worn in a bun or rooster-tail style, wooden clogs, and a flat palm-leaf hat (nón quai thao).


ÁO NĂM THÂN (FIVE-PANEL ÁO)

Also known as áo mớ ba mớ bảy, this garment is a variation of the four-panel áo. In Northern Vietnam around 1910–1920, women often added a small auxiliary opening (about 3 cm wide) on the right side of the collar, fastening the collar asymmetrically. This adjustment opened the neckline slightly, making it more alluring and suitable for wearing jewelry.

The five-panel áo is closely associated with the Nguyễn dynasty. It was worn with trousers instead of skirts, marking a transition from folk clothing to ceremonial dress. This style is considered the direct precursor of the modern áo dài.


FROM TRADITIONAL TO MODERN: THE TRANSFORMATION OF THE ÁO DÀI

Following the áo dài reform movement promoted in Phong Hóa magazine in the 1930s, Vietnamese áo dài evolved from the five-panel form into modernized versions.


ÁO DÀI CÁCH TÂN (REFORMED ÁO DÀI)

Emerging from the áo dài reform movement of the 1930s, the Vietnamese áo dài entered a phase of modernization. Based on the traditional five-panel structure, the design was simplified by removing auxiliary panels, creating a slimmer silhouette that gently contours the body. With a high collar and long sleeves, the reformed áo dài enhances the elegance and grace of women.


ÁO DÀI HIỆN ĐẠI (MODERN ÁO DÀI)

From the five-panel structure—symbolizing family and social order—the áo dài gradually evolved: the panels were streamlined, the cut became more form-fitting, the front and back slits more defined, and fabrics lighter with a wider range of colors. While maintaining its essential characteristics—long tunic, side slits, and high collar—the modern áo dài employs diverse materials such as silk, voile, chiffon, lace, and brocade, combined with printed, embroidered, hand-painted, or stylized motifs, reflecting creativity within traditional fashion.


ÁO DÀI TÂN THỜI (CONTEMPORARY ÁO DÀI)

This is a modern adaptation of the traditional áo dài, designed to suit contemporary life. It retains the basic form of the Vietnamese áo dài (a two-panel tunic worn with trousers) but is adjusted in terms of materials, colors, and the length of sleeves, collar, and panels. The design highlights feminine grace while meeting the needs of festivals, cultural events, artistic performances, and everyday social life.


MƯỜNG ETHNIC ÁO DÀI

The traditional costume of the Mường ethnic group reflects the cultural identity of Vietnam’s midland and northern mountainous regions. It typically consists of a short long-sleeved tunic or fitted blouse paired with a long black skirt and a brightly patterned woven belt. The garment usually features dark colors with minimal decoration; visual emphasis lies on the skirt waistband and belt, adorned with geometric patterns symbolizing Mường cosmology and daily life.


ÁO DÀI MỚ BA MỚ BẢY

This was a common traditional costume of women in Northern Vietnam in the past. The wearer layered multiple long tunics in different colors—lighter shades inside and darker ones outside—creating a harmonious and elegant color effect. The outfit was often paired with a pink bodice, a black skirt, and a silk sash. The multiple layers symbolized abundance, modesty, and refinement.


ÁO DÀI TỨ THÂN (FOUR-PANEL ÁO – RURAL STYLE)

A traditional garment of rural Northern Vietnam, consisting of four panels: two separate front panels and two joined back panels, symbolizing the four parents. Typically brown, black, or light brown in color, it was worn over a bodice, paired with a black skirt and a colored sash. The four-panel áo is closely associated with agricultural life and folk festivals, expressing a rustic, gentle, and dignified beauty.


ÁO DÀI IN DAILY LIFE

– The graceful áo dài worn by female students to school
– The bridal áo dài worn by brides on their wedding day
– Fashion áo dài worn to parties, events, and festivals




Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2026

Thái độ của bảo vệ làm mất hình ảnh thân thiện du lịch Việt

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng 

Thái độ của bảo vệ làm mất hình ảnh thân thiện du lịch Việt 

Chiều hôm qua (10/1/2026), tôi nhìn thấy một du khách, hình như là người Hồi giáo, đang đứng trong sân của công viên nhỏ bên hông nhà hát TP.HCM, hai tay ông chắp lại thành cúi đầu thành kính hướng về phía đối diện khách sạn Continental Saigon. Nhìn thoáng qua tôi biết ông đang thực hành nghi lễ cầu kinh, bởi vì xung quanh xe cộ chạy rất đông nên ông vào đây đứng để có giây phút yên tĩnh.


Tuy nhiên, một người phụ nữ đã lên tiếng báo với bảo vệ là “nhìn ông kia đang làm gì thế”. Bảo vệ giữ xe vội vã chạy ngay đến xua đuổi người du khách, ông ta cũng rất bất ngờ và giải thích là đang đọc kinh. Bảo vệ tìm đủ cách đuổi ông khách đi, bên ngoài, 2 bảo vệ khu vực đứng nhìn và cười chứ không ai can thiệp. Vài phút sau, ông bảo vệ của nhà hát bỏ đi để cho ông du khách tiếp tục cầu kinh. Khoảng 1-2 phút sau ông du khách cũng rời đi.

Tôi vô tình chứng kiến câu chuyện này và lòng rất buồn. Chúng tôi đã du lịch tự túc đến Malaysia, Thái Lan lang thang đi chơi khắp nơi, người dân ở đây, đặc biệt là bảo vệ, cảnh sát họ rất là thân thiện. Du khách được quyền làm bất cứ điều gì lành mạnh, hợp pháp, có điều gì chưa đúng quy tắc thì cảnh sát hay bảo vệ chỉ nhắc nhở và hướng dẫn. Có lần tôi đến tu viện rộng lớn ở Penang, vì ngày nghỉ lễ chẳng có ai chúng tôi đi lung tung một hồi thì có bác bảo vệ chạy đến, tôi rất lo lắng là sẽ bị đuổi đi do vi phạm điều gì đó, nhưng ông ấy với tác phong lịch sự ân cần tìm cách giải thích cho chúng tôi hiểu và cho lịch giờ mở cửa của thánh đường để chúng tôi quay lại.

Người đàn ông kia chỉ đơn giản đứng lặng lẽ cầu nguyện mà vẫn bị bảo vệ đến xua đuổi quấy rối, điều này tạo ấn tượng xấu xí dù chúng ta đưa ra khẩu hiệu du lịch thân hiện mà chưa có sự hướng dẫn cặn kẽ về thái độ đón tiếp du khách đến những bộ phận trực tiếp hàng ngày gặp du khách đến từ khắp nơi trên thế giới. 

Triển lãm tượng đồng chân dung danh nhân - nghệ sĩ điêu khắc NGUYỄN SANG KIM THANH

TƯỢNG ĐỒNG nghệ sĩ điêu khắc NGUYỄN SANG KIM THANH Liên lạc: Nghệ sĩ điêu khắc KIM THANH Điện thoại: (+84) 0932.637.699 Zalo: (+84) 09326376...