Tưởng Nhớ Phạm Duy
Tối ngày 15/1/2025, tại Salon Văn hóa Cà phê thứ Bảy, trên con đường nhỏ mang tên Phan Kế Bính, giữa lòng Sài Gòn nhộn nhịp, tôi may mắn được tham dự buổi họp mặt văn nghệ ‘Nhớ Phạm Duy’.
Phạm Duy qua đời ngày 27/1/2013, tính theo ngày Ta thì trùng hợp với ngày Tây 15/1/2025. Do đó, một số người ái mộ nhạc của ông chọn ngày giỗ để gặp mặt và để ôn lại kỉ niệm với ông. Đây là ngày giỗ thứ 12.
Căn phòng trên lầu 1 của quán cà phê nhỏ nhắn, ấm cúng, nhưng đầy ắp khán giả – những người yêu nhạc và mến mộ tài năng của Phạm Duy.
Đây cũng là một dịp để tưởng nhớ và tri ân một người nghệ sĩ lớn, người đã để lại một di sản vô giá trong nền văn hóa âm nhạc Việt Nam.
Bước vào khán phòng, tôi đã cảm nhận được không khí đầy ấm áp và thân tình. Đa số khán giả là những người lớn tuổi. Họ tới đây không chỉ để nghe nhạc, mà còn để sống lại những kí ức xưa cũ, khi những giai điệu của Phạm Duy từng vang lên, đồng hành cùng cuộc đời họ.
Nhưng đáng chú ý là vẫn có nhiều gương mặt trẻ trung trong khán phòng. Sự hiện diện của họ là minh chứng rằng nhạc của Phạm Duy, dù mang đậm dấu ấn thời gian, vẫn vượt qua mọi rào cản thế hệ để chạm đến trái tim của những người trẻ hôm nay.
Điều hợp chương trình là Lê Ngọc Hân. Với giọng nói nhỏ nhẹ nhưng đầy cảm xúc, cô đã tái hiện lại cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Duy qua những tư liệu quí giá từ sách của GS Trần Văn Khê, bài viết của BS Ngô Thế Vinh, và bộ sách “Nhìn lại âm nhạc miền Nam 1954-1975” của nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên.
Và nhắc nhớ Phạm Duy là một nhạc sĩ ngàn lời ca, nhạc công, ca sĩ, và còn là nhà nghiên cứu âm nhạc lớn của Việt Nam. Ít ai biết rằng Phạm Duy có những công trình giá trị như Tân nhạc Việt Nam thưở ban đầu, Đặc khảo về dân nhạc ở Việt Nam.
Qua những câu chuyện ấy, hình ảnh của một Phạm Duy – vừa là một người nghệ sĩ tài hoa, vừa là một con người sống trọn vẹn với những đam mê và lỗi lầm – hiện lên đầy sống động, chân thực.
Chương trình có những lời chia sẻ từ khán giả và đan xen các tiết mục biểu diễn sống động, khiến khán phòng không ngừng rung động.
Các ca sĩ Thanh Trúc, Hải Vân và Lê Tình đã đưa khán giả trở về với những bài ca bất hủ như Tình Ca, Kỷ Niệm, Nhớ Người Thương Binh, Nghìn Trùng Xa Cách, Tìm Nhau, Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng, và Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà.
Ca sĩ Lê Tình: Nhớ Người Thương Binh và Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà
Những ca khúc đó, cùng với tiếng đàn piano tinh tế của giảng viên-nghệ sĩ Nguyễn Lan Chi, khiến tôi cảm nhận được một sức sống khác biệt – một cảm giác mà chỉ có âm nhạc sống, trong không gian gần gũi, mới có thể mang lại.
Đặc biệt, hai ca khúc phổ thơ của Hàn Tấn Quang, Em Hát và Nỗi Nhớ Vô Thường, mà tôi nghe lần đầu tiên. Những giai điệu mới mẻ này đã chứng minh rằng âm nhạc Phạm Duy không chỉ dừng lại ở quá khứ mà vẫn tiếp tục sống và phát triển trong hiện tại.
Một phần rất đặc biệt của buổi sinh hoạt là sự tương tác giữa khán giả và chương trình. Nhiều người đã đứng lên chia sẻ những câu chuyện, kỉ niệm của họ với nhạc sĩ Phạm Duy. Có người xúc động kể về lần đầu tiên được nghe ông hát, có người kể về một lần gặp gỡ tình cờ, và cả những câu chuyện nhỏ nhưng đầy ắp tình cảm.
Riêng tôi, tôi cũng có cơ hội chia sẻ những lần tôi gặp ông ở Mĩ và Việt Nam. Tôi đã bị ‘phơi nhiễm’ nhạc Phạm Duy từ năm Đệ Tứ qua những bài mang âm hưởng dân ca như Gánh Lúa, Tiếng Hò Miền Nam, và đặc biệt là bài Nhớ Người Thương Binh vì bài đó rất hợp với hoàn cảnh của Ba tôi, người thương binh đã để lại một cánh tay trong chiến trường chống Pháp thời 1945.
Tôi yêu nhạc Phạm Duy không chỉ vì ông viết cho những người như Ba tôi, mà còn là tiếng Việt trong nhạc của ông.
Tôi nhớ mãi lần cuối cùng gặp Phạm Duy, trong bệnh viện, khi ông chỉ còn vài ngày để sống. Ông nắm lấy tay tôi, ánh mắt vẫn sáng và tràn đầy nghị lực, như muốn nhắn nhủ điều gì đó mà tôi chưa thể hiểu hết.
Nhạc sĩ Dương Thụ, một người từng có thời chịu ảnh hưởng của âm nhạc Phạm Duy, đã có những chia sẻ sâu sắc. Ông nhắc đến những khó khăn hậu trường trong việc phổ biến nhạc Phạm Duy và Cung Tiến ở Việt Nam, vì những rào cản chánh trị và định kiến khiến hai người nhạc sĩ tài hoa này bị đặt vào vòng nghi vấn.
Dương Thụ đã nói một câu mà tôi nghĩ sẽ mãi khắc sâu trong lòng mình: ‘Làm nghệ thuật, trước hết anh phải là người tự do.’
Và ông khẳng định, Phạm Duy chính là hiện thân của sự tự do đó. Ông sống thật với chính mình, không giấu giếm cả những lỗi lầm, và chính sự trung thực ấy đã làm nên một Phạm Duy không thể thay thế.
Nhạc sĩ Dương Thụ đã đề xuất hai ý tưởng rất hay trong tương lai: thành lập một Viện Âm Nhạc Phạm Duy và soạn một cuốn Từ điển nhạc Phạm Duy. Những ý tưởng này, nếu thành hiện thực, sẽ là cách tuyệt vời để bảo tồn và lan tỏa giá trị của một di sản âm nhạc đồ sộ, để thế hệ mai sau có thể tiếp cận và hiểu sâu hơn về những gì Phạm Duy đã để lại cho nền văn hóa Việt Nam.
Buổi sinh hoạt ‘Nhớ Phạm Duy’ đã khép lại nhưng những giai điệu và câu chuyện vẫn còn đọng lại trong tâm trí tôi. Đây không chỉ là một buổi tâm tình mà còn là một hành trình tìm về quá khứ, nơi những giá trị nghệ thuật chân thực và đẹp đẽ nhất được tôn vinh.
Tôi ra về với lòng vừa đầy cảm xúc, vừa ngậm ngùi. Nhạc sĩ Phạm Duy, với tất cả tài năng và con người của ông, mãi mãi là một biểu tượng không thể phai mờ trong trái tim của những người yêu âm nhạc Việt Nam. Nhưng cái tên và di sản âm nhạc của ông vẫn long đong trên quê hương mình, ngay cả sau khi ông đã đi về bên kia thế giới 12 năm.
--------------------------
Hôm đó, nhạc sĩ Dương Thụ có những câu chuyện hậu trường về việc phổ biến nhạc Phạm Duy ở VN. Có câu chuyện về kiểm duyệt mà tôi nghe qua tưởng như là thời thập niên 1950 nhưng tôi không thể viết ra ở đây.
Tố Hữu, khi được hỏi về sự nghiệp của Phạm Duy, từng nói: ‘Bỏ khúc giữa, lấy khúc đầu và khúc đuôi‘. Khó hiểu ông ấy nói gì, nhưng có thể hiểu rằng chỉ nên dùng những ca khúc sáng tác trước 1954 và bỏ những ca khúc sau 1954 ở trong Nam. Tôi không chắc ông Tố Hữu biết hết những ca khúc Phạm Duy sáng tác ở trong Nam (sau khi rời kháng chiến). Đó là những ca khúc rất hay. 'Bỏ khúc giữa' nếu hiểu bỏ những ca khúc đó thì quả là một thiếu sót lớn.
Nhưng có lẽ vì câu phán đó mà rất nhiều ca khúc của ông vẫn còn bị cấm cho đến nay. Chỉ có chừng hơn 100 ca khúc (chiếm 10% tổng số sáng tác) được phép lưu hành chánh thức. Nhưng cho dù bị cấm đoán, nhạc của Phạm Duy vẫn tồn tại trong công chúng. Người ta vẫn hát nhạc của ông. Nói như Trịnh Công Sơn là ‘Phạm Duy bàng bạc trong tất cả đời sống âm nhạc.’
Có thể ví von ông như là người thơ kí thời cuộc. Ông dùng âm nhạc để ghi lại những biến động lịch sử, những niềm hân hoan bên cạnh những nỗi buồn, những tình tự dân tộc cùng những trăn trở của thanh niên và trí thức trong thời chiến. Mỗi giai đoạn lịch sử đều được ông ghi lại bằng những ca khúc khó quên. Gần như bất cứ ai, ở bất cứ thời điểm nào cũng có thể tìm sự đồng cảm trong những lời ca câu hát của Phạm Duy.
Tủ nhạc của tôi vẫn còn những ca khúc ông sáng tác vào thập niên 1970s qua phổ thơ của Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, và Cung Trầm Tưởng. Trịnh Công Sơn là một người hay chữ, mà còn phải thốt lên rằng ‘Không ai phổ thơ hay bằng Phạm Duy. Bài thơ nào qua tay ông là nổi tiếng. Một nhà ảo thuật về phổ thơ.‘ Có người, như thi sĩ Trần Dạ Từ, thì xem ông là ‘một trong những nhà thơ vĩ đại nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam thời hiện đại.’ Thoạt đầu nghe qua thì có vẻ là một nhận xét cường điệu, nhưng nghe qua những sáng tác do ông viết lời chúng ta dễ dàng thấy ông có cách sắp xếp chữ như một bài thơ.
Bài trên Facebook giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, ngày 18 Jan 2025
Tôi sanh ra và lớn lên ở Kiên Giang, nhưng nguyên quán Bình Định (vì Ba Má tôi đều là người Bình Định: Tuy Phước và Phù Mỹ). Tôi đến Úc vào ngày 26/1/1982 (tức ngày Quốc Khánh Úc)
Cuộc đời và sự nghiệp tôi xoay quanh ở Bệnh viện St Vincent’s, Viện nghiên cứu y khoa Garvan và vài đại học
Ngày 10/9/2021 tôi rời Viện Garvan sau đúng 30 năm gắn bó, và chuyển lab về Đại học Công nghệ Sydney (UTS).
Chức vụ
- Giáo sư xuất sắc (Distinguished Professor), y khoa tiên lượng, School of Biomedical Engineering, Đại học UTS Australia.
- Giám đốc Trung tâm Công nghệ Y tế (Centre for Health Technologies), UTS (từ 2021).
- Giáo sư (Adjunct) dịch tễ học và thống kê học, Trường Y, Đại học Notre Dame Australia.
- Giáo sư (Adjunct) y khoa, St Vincent’s Clinical School và School of Public Health and Community Medicine, UNSW Sydney.
- NHMRC Leadership Fellow. (Chức danh ‘Fellow‘ ở Úc rất khó dịch, nhưng có thể hiểu nôm na như là một ‘ghế học thuật‘ được một tổ chức khoa học trao tặng kèm theo một ngân sách cho nghiên cứu).
Góp thêm câu chuyện của tôi về nhạc sĩ Phạm Duy.
Hồi năm 2005, nhớ là vậy, biết ông về VN lần đầu sau 1975, đọc tin, tôi vui như người thân của mình về vậy. Tôi không ngần ngại đặt một lẵng hoa gắn dòng chữ "Chào mừng Phạm Duy về Việt Nam" rồi gửi đến khách sạn nơi ông ở - đối diện vườn Tao Đàn, hàm ý rằng, người yêu nhạc Phạm Duy luôn nhớ đến ông.
Lúc ông mất, tôi cùng cô bạn đến viếng tang lễ. Nhạc Phạm Duy thấm vào chúng tôi đến vậy!
Ps. Tôi luôn viết/gọi những nghệ sĩ chỉ bằng tên/nghệ danh, không phải là bất kính họ, bởi ở lứa tuổi nào họ cũng luôn là những người trẻ trong nghệ thuật.
(Copy từ fb GS Nguyễn Tuấn)
Tưởng Nhớ Phạm Duy
Lê Đình Phong
·
Những năm đầu khi nhạc sĩ Phạm Duy mới về nước, em có đến dự sinh nhật ông (hình như 91 tuổi) ở Nhà sách Phương Nam - Gò Vấp. Không gian nhỏ, không quá nhiều người, nhưng như vậy lại hay, bởi Nhạc ông cũng kén người nghe và không ồn ào.
Em cũng đến viếng đám tang của ông. Mộc mạc, ấm cúng, những bài hát du dương, ông mặc vest đỏ nằm đó an yên, nhưng nghìn trùng xa cách…
Mê ông, mê cái đẹp, mê cái hồn dân tộc… trong từng bài hát của ông.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét