Câu chuyện của họa sĩ Phan Vũ (1926-2019) người đam mê nghệ thuật hội họa lần đầu được đặt chân đến Paris, qua lời kể của 2 người bạn: Vũ Thư Hiên và Xuân Phượng
VŨ THƯ HIÊN - Phan Vũ - Paris Và Hà Nội
Phan Vũ đến Paris đột ngột. Ít nhất là đối với tôi. Đã lâu lắm tôi không nhớ tới anh, không có liên lạc. Phan Vũ xuất hiện bất ngờ cùng với Xuân Phượng.
Xuân Phượng không phải là một nghệ sĩ thuần trong bất cứ địa hạt nào, mặc dầu chị có dây dưa với điện ảnh, có viết tiểu thuyết. Nhưng chị có máu nghệ sĩ thì ai cũng biết. Xuân Phượng quen tất tần tật văn nghệ sĩ Hà Nội vào thời khốn khó. Kể một ví dụ: Nguyễn Sáng hết gạo thì chạy đến: “Bà Phượng ơi, cho tôi vài bơ”. Chàng hoạ sĩ tâm hồn lơ lửng trên mây có thể quên mọi thứ, nhưng khi phát hiện con nghê vỡ đầu được dùng thay thạp gạo nhẵn như chùi thì vẫn nhớ được nơi cần phải đến.
Xuân Phượng yêu mọi thứ nghệ thuật, văn cũng như thơ, hội hoạ cũng như nhạc. Đang làm y sĩ, chị bỏ đi phiên dịch (chữ cũ là thông ngôn) cho Joris Ivens[1]người Hà Lan, đạo diễn phim tài liệu, rồi đâm mê điện ảnh để trở thành đạo diễn. Không biết chị viết lúc nào, viết ở đâu, nhưng bất thình lình người ta bắt gặp trên các quầy sách Paris một cuốn tiểu thuyết có cái tên lạ hoắc Ao Dai bằng tiếng Pháp của tác giả Xuan Phuong. Ao Dai là Áo Dài trong tiếng Việt, Xuan Phuong là chị, Xuân Phượng. Tôi và chị có thời cùng làm ở cơ quan Văn hoá Đối Ngoại.
Chuyến đi nào tới Paris Xuân Phượng cũng a lô cho Trần Duy Nghĩa và tôi trước, lần nào chúng tôi cũng gặp nhau ở nhà hàng kiêm khách sạn Đồng Hương gần trạm metro Belleville, quận 11. Ông Nghĩa, chủ khách sạn, rất quý chị, dành trước phòng cho chị. Chị không bao giờ đi một mình, mà với các hoạ sĩ trẻ, những người chị muốn giới thiệu với công chúng yêu hội hoạ của nước Pháp – một công việc bạo dạn và thú vị - “đem chuông đi đấm nước người”.
Gặp bà chị năm xưa, bao giờ tôi cũng chờ nghe đủ thứ chuyện: chuyện bạn bè chung, chuyện đất nước. Cộng vào đó là niềm vui được gặp những hoạ sĩ trẻ rất dễ mến, và biết đâu đấy, họ rồi sẽ nổi tiếng nay mai.
Tôi sững sờ thấy Phan Vũ lù lù trong phòng Xuân Phượng. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, vỗ vào lưng nhau đồm độp, cười hết cỡ với một chút nước mắt rơm rớm. Xa nhau tính ra nửa thế kỷ có dư, gặp nhau thì đã về già, không rưng rưng mới lạ.
Chị Xuân Phượng bảo:
- Tôi giao ông Phan Vũ cho ông.
Tôi kéo Phan Vũ đi.
Sau một chuyến “hop on hop off” kéo dài một ngày, lang thang không sót danh lam thắng cảnh nào của Paris, tôi thất vọng -Phan Vũ chẳng mấy hào hứng với những di tích lịch sử:
- Ờ, cũng thú đấy - được thấy cảnh thật mà mình từng thấy trong ảnh, hoặc xem trong mục “du lịch qua màn ảnh nhỏ”. Nhưng thấy rồi là thấy rồi, câu ạ, dẫn tớ đi xem những cái khác đi.
Phan Vũ không thích thắng cảnh thì tôi đưa Phan Vũ đi “bát phố”. Như chúng tôi thường đi với nhau ở Hà Nội những năm rất xưa. Như lần tôi vừa từ nhà tù trở về, Phan Vũ đạp xe đến rủ tôi đi chơi. Anh là một trong số ít người dám đến thăm tôi. Vứt xe đấy, chúng tôi đi bộ.
Anh sinh động hơn khi đi trên những vỉa hè:
- Cậu có thấy cái nắp cống này không? – anh bắt tôi dừng lại để ngắm nghía hồi lâu cái vật tròn bằng gang to bằng cái nia với những hoa văn và tên công ty – Y như ở Hà Nội ấy.
Tôi gật:
- Người Pháp mua những thứ này từ chính quốc để lắp trên phố Hà Nội mà. Công ty sản xuất ra nó có thể không còn, cái này tôi không rành, nhưng sản phẩm bằng gang của nó thì còn đấy.
Phan Vũ bần thần:
- Ở Hà Nội những nắp cống này biến hết rồi.
Tôi nhớ những ly cà phê với Phan Vũ ở quán Lâm Toét và những câu chuyện dính dáng tới Hà Nội – không phải Hà Nội khi ấy, mà Hà Nội trong hoài niệm.
Cuối ngày, tôi dắt Phan Vũ đi uống cà phê vỉa hè.
- Giống ở Sài Gòn – anh nhận xét - Người ta ngồi quay mặt ra đường để ngắm người, ngắm xe cộ, tóm lại để ngắm sự sống trôi qua trước mắt.
Anh chỉ sinh động hẳn lên vào một hôm khác, khi được tôi đưa đến quán cà phê La Rotonde ở khu Montparnasse.
Tôi được biết về quán này qua cuốn Con Người, Năm Tháng, Cuộc Đời của Ilya Ehrenburg.
La Rotonde có một lịch sử không lâu đời. Thoạt tiên, năm 1903, nó là quán cà phê cho người nghèo. Dần dà những nghệ sĩ, cũng là người nghèo, tới, rồi sau đó những người không nghèo, và cả những người giàu cũng theo chân, La Rotonde trở thành nơi tụ hội của văn nghệ sĩ. Cái quán bé nhỏ được mở rộng, được hiện đại hoá cho tới khi nó có diện mạo ngày nay, đẹp và sang trọng.
Phan Vũ vừa nhâm nhi cà phê vừa đọc phần liệt kê những khách hàng nổi danh đã ngồi ở chỗ chúng tôi đang ngồi trong tờ thực đơn dày cộp và bóng láng: Picasso, Aragon, Apolinaire, Riviera, Hemingway, Modigliani, Ray, Fargue, Bayard, Foujita, Zborowski… … Không kể các nghệ sĩ, những nhà cách mạng của nước Nga xô-viết mà công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phan Vũ không thể không biết tên: Lenin, Trosky, Zinovev, Kamenev, Lunatcharsky… cũng từng là khách quen của La Rotonde.
- Giá mà Hà Nội ta cũng có một quán cà phê như thế này nhỉ! – Phan Vũ cảm thán.
Thêm một giai thoại về La Rotonde. Nó có thật hay không tôi không biết. Chuyện kể rằng ở La Rotone, nếu trong đầu nhà thơ nhà văn nảy ra một một tứ hay thì anh ta có thể gọi chủ quán đưa giấy bút cho mình. Từ những mẩu giấy ấy những bài thơ, những truyện ngắn, thậm chí những phác thảo tiểu thuyết ra đời. Nghe đồn về La Rotonde, nữ hoàng Anh liền cho mở một quán sang hơn La Rotonde, ở đó các nhà văn nhà thơ nước Anh tha hồ cà phê cà pháo, tha hồ viết lăng nhăng đủ mọi ý sáng tác ra giấy mà không mất xu nào. Những ly cà phê miễn phí ấy, tiếc thay, lại không sinh ra được cái gì hay ho cho Nữ hoàng. Giai thoại là giai thoại, nó cứ sống, bất kể anh tin nó hay không.
Uống hết ly thứ hai, Phan Vũ ngửa cổ cười sảng khoái. Rồi rụt rè:
- Hỏi thật cậu, mình uống ly thứ ba nữa có làm thủng túi cậu không đấy?
- Cứ thoải mái. Muốn ngồi bao lâu cũng được, không cần phải uống thêm. Các quán cà phê Paris không có lệ đuổi khách. Gọi một ly, ngồi vài giờ, đọc hết vài tờ báo, tán dóc đủ thứ chuyện trên giời dưới đất cho đến chán thì về.
Tôi hiểu Phan Vũ nghĩ gì. Anh không muốn rời tờ thực đơn khi chưa nhớ hết tên các vị khách đáng nhớ cho một kỷ niệm không dễ có. Tờ thực đơn khổ lớn, bóng láng và cứng, không nhét vừa túi quần hay túi áo.
Tôi vạch cái túi xách bất ly thân của tôi:
- Bỏ vào đây!
Nhanh như chớp, Phan Vũ liếc quanh rồi nhét vội nó vào đấy. Tôi không biết chúng tôi làm việc ấy đúng hay sai. Có thể hỏi anh bồi bàn, nhưng nếu anh ta từ chối thì rách việc. Người ta có thể tiếc - tờ thực đơn in đẹp thế cơ mà!
Không biết khi anh qua đời có ai giữ lại tờ thực đơn ấy không? Nó đáng được giữ lại, như một kỷ niệm độc đáo mà Phan Vũ rất quý.
Nước ta có nhiều nhà thơ. Có thể mạnh miệng mà nói rằng không một nước nào trên thế gian này có nhiều nhà thơ bằng nước ta.
Tôi có một ông bạn nhà thơ. Ông không chỉ làm những bài thơ ngắn, ông còn làm những trường ca in thành sách dày cộp. Nhưng tôi không nhớ được lấy một câu nào trong những bài thơ và những trường ca của bạn mình.
Tôi nghĩ, chắc không sai, rằng đã là nhà thơ thì ít nhất anh cũng để lại trong trí nhớ người đọc một câu.
Phan Vũ không chỉ để lại một câu. Là người Hà Nội, không ai không thể không biết, không nhớ trường ca “Em ơi! Hà Nội – phố!
1.
Em ơi! Hà Nội - phố!
Ta còn em mùi hoàng lan.
Ta còn em mùi hoa sữa.
Tiếng giày ai gõ nhịp đường khuya?
Cọt kẹt bước chân quen.
Thang gác thời gian
Mòn thân gỗ.
Ngôi sao lẻ lạc vào căn xép nhỏ...
Ta còn em chấm lửa
Điếu thuốc cuối cùng,
Xập xoè.
Kỷ niệm...
Một con đường
Một ngôi nhà
Khuôn mặt ai
Dừng trong khung cửa...
Những phong thư bỏ quên trong hộc tủ
Không tên người,
Không tên phố.
Người gửi không tên.
Ta còn em chút vang động lặng im,
Âm âm tiếng gọi
Trong lòng phố...
2.
Em ơi! Hà Nội - phố
Ta còn em một gốc cây,
Một cột đèn.
Ai đó chờ ai?
Tóc cắt ngang
Xoã xoã bờ vai,
Khung trời gió.
Con đường như bỏ ngỏ...
Ta còn em khăn choàng màu tím đỏ
Thoáng qua...
Khuôn mặt chưa quen.
Bỗng xôn xao nỗi khổ.
Mỗi góc phố một trang tình sử
3.
Em ơi! Hà Nội - phố!
Ta còn em rì rào hạt nhỏ,
Cơn mưa chợt đến trong chùm lá
Vòm trên cao chuông hồi đổ,
Nhà thờ Cửa Bắc,
Tan chiều lễ
Kinh cầu còn mãi ngân nga...
Ta còn em đôi mắt buồn
Dõi cánh chim xa.
Trên hè phố
Gã Trương Chi ôm ghi ta.
Ngước lên cửa sổ,
Có một ngày...
Trống không ô cửa.
Tiếng hát Trương Chi.
Ngợi số nhà...
Thôi, tôi không trích thêm nữa trong trường ca 23 đoạn về Hà Nội của Phan Vũ. Mắt tôi ướt mất rồi.
Phan Vũ không còn với chúng ta. Nhưng “Em ơi! Hà Nội – phố” sẽ còn mãi. Như những mái nhà của phố Phái.________
[1] Georg Henri Anton Ivens tức Joris Ivens, đạo diễn người Hà Lan (18.10.1898 – 28.6.1989)
XUÂN PHƯỢNG: Phan Vũ với Paris... (trích hồi ký Gánh gánh gồng gồng)
Cách đây mười hai năm, trong một buổi trò chuyện đầy thú vị trong khu nhà vườn tuyệt đẹp của kiến trúc sư Đỗ Thụy, một người bạn, một người em thân thiết của tôi, anh Phan Vũ tâm sự: "Gần 80 tuổi đầu mà chưa đặt chân đến được đôi bờ con sông Seine. Chỉ mong một lần la cà đến các quầy sách báo cũ ven sông, uống một ly cafe tại Cafe de La Paix...". Tôi trả lời: "Cái đó dễ. Tháng 6 này tôi đi triển lãm tranh tại Paris. Nếu anh muốn đi cùng thì đề nghị anh mang theo vài tranh, xin phép ok của phu nhân Diễm Chi. Còn mọi việc khác để tôi lo".
Giấy tờ qua lại và hai tuần sau tại sân bay Tân Sơn Nhất, chàng Phan Vũ tài hoa vận một bộ âu phục chỉnh tề đã cùng đoàn họa sĩ bay đến Paris.
Tháng 6 năm 2008 tại Paris.
Triển lãm tranh mang tên "Sắc màu Việt Nam" chuẩn bị khai mạc tại phòng tranh Cameleon (Tắc Kè Hoa) trên Đại lộ Maine quận 14.
Phan Vũ có bốn bức sơn dầu, treo đúng vào bức tường chính. Hơn hai trăm khách đã đến. Nhà văn, nhà báo, các kênh truyền hình Pháp tíu tít chúc mừng. Vì muốn Phan Vũ ấn tượng về chuyến đi Paris này, tôi đề nghị anh thay tôi nói lời khai mạc. Vũ lắc đầu: “Tiếng Pháp tôi quên nhiều lắm rồi. Sợ nói không đủ ý.” -“Thì anh Vũ cứ nói, chỗ nào lúng túng tôi tiếp tay!”
Phan Vũ, đóng áo vét, quần dài màu đen, sơ mi trắng, cà vạt đỏ, giầy đen, sang trọng như bất cứ người nghệ sĩ Paris nào, cất tiếng: “Thưa quý bà, thưa quý ông…” rồi im lặng. Một phút, hai phút, mọi người chờ đợi. Tôi chuẩn bị “tiếp sức” nhưng anh Vũ gạt tay và lại tiếp tục bằng tiếng Pháp: “Tôi rất thích tiếng Pháp nhưng lâu ngày quá thiếu thực hành nên quên mất rồi. Tôi chỉ nhớ tình yêu tiếng Pháp của tôi bắt đầu từ một bài hát năm tôi lên chín tuổi. Hôm nay được gặp các bạn, tôi xin hát lại bài này, gọi là một chút kỷ niệm cho chuyến đi đầu tiên đến Paris.” Khách chưa kịp hết kinh ngạc cho bài diễn văn khai mạc triển lãm này thì Phan Vũ đã cất cao giọng hát: “En passant par la Lorraine avec mes sabots…” (Khi tôi băng qua vùng Lorraine với đôi guốc của mình...). Giọng tenor sang sảng của một anh chàng 84 tuổi, một ông lão hồn nhiên và say sưa đang hát một bài của nhi đồng Pháp tuổi lên chín. Cả mấy trăm người đang im lặng bỗng vỗ tay theo nhịp và vừa cười vừa hát theo.
Trong đám người vừa đung đưa vừa hát ấy có Thứ trưởng Bộ Văn hóa Pháp, vợ chồng ông Pierre Lescure, Chủ tịch Liên hoan Phim Cannes, bà phó Quận trưởng quận 14,.... Không khí nhộn nhịp, tưng bừng chưa từng thấy…
Vài ngày sau triển lãm, tôi đưa ba họa sĩ trẻ cùng Phan Vũ đến thăm Bảo Tàng Nghệ Thuật Hiện Đại Paris. Sáng hôm ấy, Phan Vũ cạo râu, chải tóc và diện chiếc sơ mi màu xanh nhạt, mới nguyên trong hộp mà phu nhân Diễm Chi đã chọn. Ba họa sĩ trẻ kia thì quần jeans, áo phông như thường lệ. Anh Vũ quay lại: “Chúng mày ăn mặc tề chỉnh vào, không nhơn nhơn như đi phố được đâu, sẽ được xem tận mắt những tác phẩm bao lâu mơ ước đấy.” Ba anh chàng vội lên khung tề chỉnh và cả đoàn kéo nhau đến bảo tàng.
Điều diệu kỳ đã đến:
Hai bức tranh tường “Điệu Múa Dở Dang” và “Điệu Múa Thành Paris” của Matisse, “Bữa Ăn Trưa” và “Cánh Cửa Sổ” của Bonnard vẽ năm 1932, rồi Robert Delaunay với: “Thành Phố Paris”, rồi Mac Chagall với “Giấc Mộng”, rồi Modigliani với “Người Đàn Bà Có Đôi Mắt Xanh” đắm say...
Phan Vũ ngồi lặng người trên chiếc ghế dài đặt giữa phòng tranh, hai tay ôm đầu. Bỗng anh đứng lên và tiến đến gần người bảo vệ phòng triển lãm. Tôi đi theo anh. “Chị Phượng, hỏi giùm tôi bức tranh tường lớn nhất của Raoul Dufy "La Fée Electricité" (Nàng tiên của Ánh Điện) vẽ năm 1937 hiện trưng bày ở đâu?”.
Người bảo vệ đứng phắt dậy, chăm chăm nhìn vào chúng tôi và lẳng lặng dắt chúng tôi đến một gian phòng dành riêng cho một bức tranh dài 60 mét với hàng trăm nhân vật.
Như bị hút hồn, rất lâu, Phan Vũ lặng người nhìn vào từng phần của tác phẩm màu sắc kỳ diệu này Nét vẽ tinh tế, ánh sáng lung linh. Nhẹ nhàng kéo một chiếc ghế ra hiệu cho tôi ngồi nghỉ chân, ông bảo vệ đến đứng sát Phan Vũ.
Bất ngờ làm sao, Phan Vũ nức nở khóc, nước mắt chảy dài, đầm đìa trên mặt. Người bảo vệ hoảng hốt: “Madame, madame…!” (Bà ơi! Bà ơi!). Tôi vỗ vai Phan Vũ, anh như bừng tỉnh lại, lau vội nước mắt và tựa đầu vào vai tôi. Ông già trên tám mươi bốn tuổi nói ngắt quãng: “Phải đến tuổi này tôi mới được gặp Dufy!”. Tôi nhẹ nhàng phân trần về sự xúc động quá mãnh liệt của bạn mình.
Người bảo vệ phòng tranh gật gù: “Đây mới thật là một người nghệ sĩ. Bảo tàng này có trên tám nghìn tác phẩm, mỗi năm có hơn ba triệu người đến thăm nhưng rung động trước tranh lớn của Dufy như bạn bà thì tôi chưa gặp. Tranh có hơn trăm nhân vật, có thể nói rằng tranh hơi nặng nề, hơi khó hiểu, ít ai dừng lại lâu để ngắm nhìn, vậy mà một nghệ sĩ Việt Nam đã làm tôi bàng hoàng…”.
Paris đã về chiều khi chúng tôi rời bảo tàng. Những quán café vẫn còn đông nghịt người, Phan Vũ đi loạng choạng, im lặng, rồi ngước đầu ngắm mãi những đám mây xanh. Bỗng anh vấp phải một rễ cây, ngã sụp xuống, máu từ môi anh tràn ra. Chúng tôi vực anh dậy, hai người Pháp chạy đến giúp cầm máu, Vũ một tay áp chặt miếng bông, thì thào “Hạnh phúc quá”.
Sau đó là chuyện săn sóc Phan Vũ, được Phương con trai tôi nấu bồi dưỡng những bát súp ngon tuyệt, riêng tôi phải trả lời tới tấp những cuộc điện thoại của em Diễm Chi từ Việt Nam hoảng hốt gọi sang, v.v. và v.v. Xin để kể vào những lần sau. Không thể không nhắc đến tấm lòng thơm thảo, quý mến bạn bè của Trần Duy Nghĩa, đã cho đoàn chúng tôi nơi ở, nơi ăn thoải mái. Đoàn gồm sáu người, Nghĩa đã nhường phòng ngủ của mình cho tôi, và ngủ cùng tất cả họa sĩ khác trên sàn nhà. Vũ Thư Hiên hầu như ngày nào cũng đến thăm. Những tình thương ấy làm sao quên được. Không có Paris, không có Hà Nội, không có Saigon, chỉ có những con người thông cảm với nhau, thương yêu nhau, vượt không gian, vượt thời gian…
Vũ Thư Hiên đã làm tôi nhớ lại câu chuyện của mười một năm trước. Từ nay, mỗi lần từ nước ngoài về, tôi không còn hối hả vào quầy bán thuốc lá sợi mua loại đặc biệt mang tên Prince Albert hay lang thang đến các chợ trời ngoại ô Paris để tìm những chiếc dọc tẩu bằng gỗ cây thạch thảo hay những ống tẩu bằng ngà voi đã sẫm màu năm tháng để đem về làm quà cho bạn mình nữa. Phan Vũ rất thích sưu tầm dọc tẩu cổ và hiếm cùng thuốc lá sợi loại thượng hạng. Tôi không còn có dịp lang thang đi tìm những thứ không hề để dành cho phụ nữ này nữa.
Anh đã yên nghỉ ở một nơi nào đó với Dufy vừa được bảy ngày nay…
(VnExpress) Phan Vũ sinh năm 1926 tại Hải Phòng. Ông là nhà thơ, nhà văn, tác giả kịch bản, đạo diễn sân khấu và đạo diễn điện ảnh.Ngoài tác phẩm Em ơi Hà Nội phố được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc, Phan Vũ còn là tác giả phần lời bài hát: Tình ca cho em của nhạc sĩ Nguyễn Nam.Phan Vũ có một số tác phẩm gây tiếng vang như phim: Người không mang họ, Bí mật thành phố cấm, Như một huyền thoại, kịch: Lửa cháy lên rồi (giải thưởng Văn học năm 1955), Thanh gươm và Bà mẹ, Dòng sông âm vang, Ngọn lửa thành đồng.Đầu thập kỷ 1990, Phan Vũ chuyển qua vẽ tranh, ông đã có một số triển lãm chung và riêng tại TP HCM
Bài phỏng vấn Phan VũSáng ngày 17-7-2019 ở tuổi 93, nhà thơ - họa sĩ Phan Vũ đã giã biệt cuộc sống sau một thời gian hôn mê do bệnh tật và sức khoẻ suy kiệt.
Họa sĩ Phan Vũ: 'Tôi vẫn chờ thế hệ vàng của hội họa'
Phan Vũ cho hay, nhiều năm nay ông lui về ở ẩn vì ngán ngẩm cảnh "bát nháo" của đời sống mỹ thuật trong nước.
- Những năm 1990, khi đang là đạo diễn có tiếng với hàng loạt vở kịch và phim điện ảnh, vì sao ông dừng lại và chuyên tâm cho hội họa?
- Thực ra, tôi thích vẽ tranh và mày mò tự học từ lâu. Tôi cùng thế hệ với các anh Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên... Khi các anh ấy còn sống, tôi không dám vẽ vì thấy xấu hổ với tiền bối. Sau khi họ ra đi, tôi mới cầm cọ. Đó cũng là lúc tôi hết cảm hứng với điện ảnh. Quan điểm về nghệ thuật của tôi và của đơn vị phát hành không gặp nhau. Tôi dừng hẳn làm phim, dựng kịch để chuyên tâm cho hội họa, sống một đời sống lặng lẽ.
- Ông học vẽ tranh như thế nào?
- Tôi là người không tốt nghiệp bất kỳ trường lớp nào liên quan đến nghệ thuật. Mọi kiến thức đều tự học từ giáo trình nước ngoài. Mỗi khi có dịp xuất ngoại, tôi sưu tầm nhiều sách rồi đem về nhà đọc dần. Với hội họa, tôi theo đuổi trường phái trừu tượng. Trong các tác phẩm, tôi chú ý đến sự đối lập của các mảng màu hơn là hình khối. Tôi cũng ưa thích tự họa chân dung mình. Số tranh tự họa không hề nhỏ trong gia sản của tôi. Tôi rất yêu bản thân nên đó là cách để tôi ngắm mình mỗi ngày.
Phan Vũ cho hay, nhiều năm nay ông lui về ở ẩn vì ngán ngẩm cảnh "bát nháo" của đời sống mỹ thuật trong nước.
- Những năm 1990, khi đang là đạo diễn có tiếng với hàng loạt vở kịch và phim điện ảnh, vì sao ông dừng lại và chuyên tâm cho hội họa?
- Thực ra, tôi thích vẽ tranh và mày mò tự học từ lâu. Tôi cùng thế hệ với các anh Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên... Khi các anh ấy còn sống, tôi không dám vẽ vì thấy xấu hổ với tiền bối. Sau khi họ ra đi, tôi mới cầm cọ. Đó cũng là lúc tôi hết cảm hứng với điện ảnh. Quan điểm về nghệ thuật của tôi và của đơn vị phát hành không gặp nhau. Tôi dừng hẳn làm phim, dựng kịch để chuyên tâm cho hội họa, sống một đời sống lặng lẽ.
- Ông học vẽ tranh như thế nào?
- Tôi là người không tốt nghiệp bất kỳ trường lớp nào liên quan đến nghệ thuật. Mọi kiến thức đều tự học từ giáo trình nước ngoài. Mỗi khi có dịp xuất ngoại, tôi sưu tầm nhiều sách rồi đem về nhà đọc dần. Với hội họa, tôi theo đuổi trường phái trừu tượng. Trong các tác phẩm, tôi chú ý đến sự đối lập của các mảng màu hơn là hình khối. Tôi cũng ưa thích tự họa chân dung mình. Số tranh tự họa không hề nhỏ trong gia sản của tôi. Tôi rất yêu bản thân nên đó là cách để tôi ngắm mình mỗi ngày.
- Những bức tranh của ông được người mua đánh giá ra sao?
- Tôi không bao giờ định giá tranh của mình, giá do người xem tự trả. Khách mua tranh của tôi phần lớn là người nước ngoài. Họ trả thấp nhất là 1.000 USD cho một bức tranh, cao nhất có khi lên tới 10.000 USD. Đa phần các bức được mua với giá 4.000 - 5.000 USD. Hai năm trở lại đây, tôi ít bán tranh. Phần vì tôi chuyển về ngoại thành sinh sống, khách mua tranh cũng ít lai vãng tới phòng trưng bày của tôi trong nội thành.
- Thu nhập từ tiền bán tranh quan trọng thế nào với cuộc sống của ông?
- Tôi vẽ tranh không phải để bán. Ai thích thì mua và tự trả giá. Tiền bán tranh tôi cho vợ tôi hết. Cách đây gần 10 năm, có lần qua Pháp, tranh của tôi bán được 6.000 euro. Tôi dùng phần lớn số tiền mở tiệc chiêu đãi anh em nghệ sĩ là bạn bè mình bên đó. Khi về nước, tôi chỉ mua tặng vợ được hai chiếc áo dài.
Ngày thường, tôi sinh hoạt, ăn uống đơn giản. Tôi thức dậy từ 3h sáng để vẽ. Buổi trưa, tôi lang thang tụ tập với bạn hữu, ăn uống qua loa. Chiều tối, vợ tôi mua đồ ăn về nhà cho cả hai.
Điều tôi chú trọng nhất là luyện tập sức khỏe. Khi 70 tuổi, tôi tập tạ ngang với các bạn trẻ. Giờ đã ngoài 90 tuổi, tôi chỉ còn sức để mỗi ngày đi bộ vài cây số.
- Vì sao ông ít xuất hiện trong các sự kiện mỹ thuật dù ảnh hưởng của ông đối với lĩnh vực này không nhỏ?
- Tôi là người sáng lập và là thành viên của nhiều hội như Hội Văn học, Hội Âm nhạc, Hội Mỹ thuật... nhưng không mấy khi tôi tham gia sinh hoạt. Tôi có quan điểm nghệ thuật riêng, có thể không phù hợp với số đông nên không thể đứng chung với họ. Đời sống mỹ thuật hiện tại quá bát nháo, nhiều trường phái, nhiều phong cách nhưng tôi không tìm thấy cho riêng mình những tác phẩm ngang tầm những bức của "thế hệ vàng" ngày trước như của Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái...
Tôi vẽ tranh là để thỏa mãn chính mình. Tôi thích sống trong sự chiêm nghiệm nỗi cô đơn hơn là lẫn mình vào đám đông. Làm nghệ thuật mà hùa theo đám đông thì anh là thợ vẽ chứ không phải nghệ sĩ.
- Ông nghĩ sao nếu cho rằng, quan điểm "thế hệ vàng" trong hội họa của ông thể hiện sự hoài niệm quá khứ?
- Tôi không hề hoài niệm quá khứ. Tuổi tôi ngoài 90 nhưng tôi chơi với rất nhiều bạn trẻ chỉ 20 - 30 tuổi. Điều gì hay, sáng tạo ở họ tôi vẫn thừa nhận và thẳng thắn khen họ trước đám đông. Nhưng để có được một thế hệ vàng trong hội họa phải do bối cảnh xã hội tạo nên. Thời Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên... bối cảnh xã hội có sự giao thoa giữa mỹ thuật phương Tây và truyền thống mỹ thuật phương Đông. Các trường phái, quan điểm nghệ thuật được định hình rõ ràng, nên mỗi nghệ sĩ đều xác định được phong cách riêng trong tác phẩm của mình. Ngày nay, tôi thấy ranh giới giữa các quan điểm, trường phái đều mập mờ. Một số nghệ sĩ kiên định với phong cách của mình hay tỏ ra lập dị. Với tôi, hội họa đơn giản chỉ để chơi cho thỏa.
- Quan niệm của ông ra sao với thơ văn?
- Thơ của tôi cũng như tranh vậy. Đôi khi tôi lẫn lộn giữa hội họa và thơ ca. Trong một số bức chân dung tự họa, tôi vẽ kèm cả câu thơ tự miêu tả mình. Tôi làm thơ theo cảm xúc, không tuân theo quy luật gieo vần nào cả. Tôi là người kín tiếng, không ham phát ngôn nên mọi suy tư sâu kín, tôi gửi cả vào thơ.
https://vnexpress.net/hoa-si-phan-vu-toi-van-cho-the-he-vang-cua-hoi-hoa-3160874.html




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét