Truyện ngắn SỢI TÓC trích trong Tản văn CHUYỆN TRÒ của giáo sư Cao Huy Thuần, NXB Trẻ năm 2012
Đánh máy bởi trang thichdibui
Sửa lỗi bởi Ngọc Hân
Lần đầu tiên đọc truyện ngắn SỢI TÓC, tôi ấn tượng với các dòng tư tưởng sâu sắc chảy trong từng trang sách. Giáo sư Cao Huy Thuần sử dụng tiếng Việt mềm mại, sang trọng, chỉnh chu, như một món ăn đẳng cấp được nêm chuẩn vị. Văn phong và lối viết chánh tả của miền Nam xưa, thật giản dị gần gũi, tôi thường gọi là lối viết bác học của các giáo sư/ học giả/ nhà nghiên cứu Nam bộ thường dùng để chuyển tải tri thức đến rộng rãi quần chúng trong xã hội.
Một chuyện khác mà tôi ấn tượng khi đọc tác phẩm này, đó là sự quan sát kỹ lưỡng của ông về hành vi và suy nghĩ của phụ nữ, hiểu thấu tâm lý của phụ nữ, thật không đơn giản!_ Ngọc Hân, 1:00AM chủ nhật 6/6/2021
SỢI TÓC - GIÁO SƯ CAO HUY THUẦN
Thưa ông, xin ông đừng hỏi người gửi thư này là ai, bao nhiêu tuổi, làm nghề gì, ở đâu, có chồng hay độc thân. Địa chỉ đề ngoài bì thư là hộp thư mượn của người khác, tôi không có nhà cố định. Ông cứ xem thư này như từ trên trời rơi xuống vì lẽ ông mang trong người hai thiên chức, của nhà giáo và của nhà văn. Là nhà giáo, ông không thể dạy học trò những gì mà ông nghĩ là không thật, thiên chức của ông buộc ông phải sống với cái chân. Là nhà văn, ông không thể viết một câu gì mà ông nghĩ là không đẹp, ông phải sống với cái mỹ. Tính thiện nằm trong cái đẹp và cái thật. Thư này đến tay ông chỉ vì người viết thư biết thiên chức của ông là nói lên lời thật, lời thiện, lời đẹp.
Nhưng, trước hết, thế nào là lời thật? Nhà giáo trong ông và nhà văn trong ông có nghĩ giống nhau trong mọi hoàn cảnh rằng ở đâu và bao giờ cũng phải nói thật? Sự thật bao giờ cũng tuyệt đối, bất kể những trường hợp gai góc, tế nhị, éo le? Phải chăng nhà giáo trong ông thiên về nguyên tắc trừu tượng? Phải chăng nhà văn trong ông động lòng hơn trước hoàn cảnh cụ thể? Một bên là lý lẽ. Một bên là cảm tính. Một bên là cái đầu, là lý. Một bên là con tim, là tình. Tình lý vẹn toàn là lý tưởng của mọi hành động. Nhưng đâu phải lúc nào ta cũng thênh thang trên hai cánh ấy cùng bay? Chắc hẳn cũng có khi ông bất lực, không giải quyết được mâu thuẫn trong một hoàn cảnh nhá nhem giữa đẹp và xấu, giữa ác và thiện. Nhưng dù sao đi nữa, trời đã phú cho ông cả hai thiên chức, buộc ông phải hiểu và phải thương, hiểu để mà thương, và thương để mà hiểu. Ông là người mà thiên chức là dung hòa, nhất là dung hòa giữa lý thuyết và hành động. Vì vậy mà thư này bay đến tay ông.
Vâng, ông không cần biết tôi là ai, bởi vì chính tôi cũng không biết tôi là ai. Xét bề ngoài, tôi là người có nhan sắc. Xét bên trong, tôi không biết tôi tốt, xấu, hay bình thường như mọi người. Có người nói tôi hay làm đỏm. Nhưng làm đỏm nơi một người đàn bà là xấu, tốt, hay bình thường?
Chắc ông sẽ nói: còn tùy nhiều hay ít. Nhưng thế nào là ít, thế nào là nhiều? Hồi tôi còn sinh viên, nhà trọ của tôi chỉ độc một phòng nhưng tấm gương để trang điểm lại rất bề thế. Bạn bè của tôi đến rủ đi chơi, tôi trang điểm chưa xong, cứ mặc họ ngồi đấy chờ tôi vẽ lông mày. Tôi nghĩ thành thật: nhìn trong gương một thiếu nữ đang trang điểm có khác gì ngắm một bức tranh? Họ cứ thong dong thưởng thức, tôi cứ thong dong tô son. Như vậy là tốt, xấu, hay bình thường? Là làm đỏm? Nhiều hay ít? Trang điểm xong, tôi quay mặt hỏi họ, cả gái lẫn trai, "Được chứ, màu son không đậm quá chứ, hôm nay trời nắng to, tô đậm cháy môi, phải không?" Hình như tôi có cười một chút để môi nở ra như một cánh hoa. Như vậy là đỏm? Nhưng thành thật, tôi lại thấy tôi tự nhiên, tính tôi vốn tự nhiên như thế, nếu tôi làm dáng thì quả thật tôi làm dáng một cách tự nhiên. Có cô bạn gái bảo: "Tính mày lẳng". Có thể tôi lẳng mà không biết chăng?
Cô bạn ấy lại nói với tôi lần nữa một hôm khác. Hôm ấy tôi diện một bộ áo mới mua, gài zip sau lưng. Áo hơi chật, tôi kéo zip khó khăn. Thấy anh bạn trai đứng nhìn, tôi đến nhờ anh kéo zip lên gáy. Anh đứng sau lưng tôi, làm sao tôi thấy mắt của anh được, nhưng tôi thấy mắt của cô bạn. Cái nhìn lạ lạ. Sau đó nó nói nhỏ vào tai tôi "mày lẳng".
Đến mức nào thì lẳng, đến mức nào thì chỉ làm duyên thôi? Có cô gái nào không làm duyên? Không làm cách này thì làm cách khác, một chút xíu lẳng thì cũng là lẳng. Làm sao phân biệt được một nụ cười lẳng và một nụ cười có duyên? Chẳng lẽ lấy ý nghĩ về người đó làm tiêu chuẩn? Nếu tôi bị xem như trắc nết, cũng nụ cười duyên ấy bị xem là lẳng? Nếu tôi là mệnh phụ phu nhân, cũng nụ cười lẳng ấy trở thành có duyên? Có lẽ tính tôi có cái gì đó không giống như các người đàn bà khác, hoặc nơi nhan sắc của tôi có cái gì đó khiến người ta dễ có định kiến về tôi, cho nên cử chỉ mà tôi nghĩ là tự nhiên, người khác cho là có ý, cử chỉ mà tôi tưởng là vô tư, người khác không thấy là hồn nhiên. Người khác có lý hay tôi có lý? Có thật là tôi trong veo, hay trong cử chỉ của tôi có vẩn đục tín hiệu ong bướm mà tôi không biết?
Có lần, trong một buổi sinh nhật, mời rất đông khách, bà chủ nhà duyên dáng bặt thiệp là tôi cảm thấy khát nước, tự nhiên tôi cầm lấy ly rượu của một bạn trai hớp một ngụm rồi trả lại ly: thế là bắn tín hiệu? thế là dễ dãi? lẳng lơ? tôi làm sao nhìn thấy được mắt tôi? vậy mà sau đó có người bạn gái mang đến cho tôi một ly rượu bảo: "Cầm lấy ly này mà uống, mắt mày lẳng lắm". Thường tôi vẫn làm thế mà không để ý ai đấy ăn nửa trái đào, tôi cầm nửa trái còn lại cắn một miếng rồi trả lại vô tư. Hoặc đang ăn nửa trái táo, cầm nửa trái kia đưa cho người khác ăn, chẳng thấy sao cả. Chẳng thấy ông con trai nào phản đối, ông nào cũng vui vẻ. Vì tôi đẹp? Vì tôi vui tính? Vì tôi nhẩn nhơ như bướm không đậu trên một ai và ai cũng chờ tôi đậu? Vì trong cử chỉ của tôi có cái gì không nghiêm trang và không nghiêm trang thì quyến rũ? Tôi chỉ cười khi các cô bạn bảo: "Ai lấy mày chỉ ghen thôi là đủ chết."
Nhưng mà, thưa ông, tôi cũng thường tình như mọi người đàn bà thôi. nghĩa là bướm bay rồi cũng có khi đậu. Tôi lấy chồng, giản dị là vì anh ấy thương tôi nhất trong những người thương tôi. Anh thương tôi đến mức tôi không thể nào không lụy. Đến mức tuyệt đối. Anh nói, sắc như dao: "Trên đời này chỉ có một chân lý thôi, là sẽ không có ai thương cô bằng tôi." Tôi vừa cười vừa nghĩ: "Trên đời này cũng chỉ có một chân ý thôi là ai nói tôi lẳng là đàn bà, ai nói tôi có duyên là đàn ông." Lạ thật, ông ạ, người ta có thể hút nhau vì trái ngược nhau. Tôi hoạt bát, năng nổ. Anh điềm đạm, ít nói, mô phạm. Tôi thích diện. Anh xuề xòa. Tôi sáng chói giữa bạn bè, hội họp. Anh lúng túng giữa đám đông. Tôi ào ào như sóng biển vỗ bờ. Anh lặng lẽ như đại dương ngoài khơi. Giữa anh và tôi chỉ có một điểm giống nhau: lỳ lợm. Anh lỳ lợm thách thức tôi. Tôi lỳ lợm thách thức anh. Anh phải lấy tôi cho bằng được để chứng tỏ anh hơn mọi người. Tôi cưỡng lại cái kiêu hãnh đó đến kỳ cùng bằng cách không khuất phục. Rốt cục tôi thua. Thua cũng là duyên dáng của đàn bà mà nhiều người đàn bà không biết.
Nhưng không phải anh ấy thắng. Không ai thắng tôi được. Lấy chồng hay không lấy chồng, tính tôi vẫn tự do như cơn gió, vẫn giao du, vẫn nhiều bạn bè. Tôi chơi với ai cũng dễ thân, gần ai cũng được mến, chỉ có một điều khác trước là tôi biết dừng lại ở một mức thân mật vừa phải, đủ để cho tôi vẫn có thể ngạo nghễ với chính tôi rằng tôi tự do nhưng không phóng đãng. Không phải tôi sợ hư hỏng đâu, bởi vì tôi chẳng biết thế nào là hư hỏng, tôi không lấy tiêu chuẩn đạo đức của mọi người để áp đặt cho mình. Tôi chỉ biết rằng chồng tôi là một người rất đáng kính trọng, một bậc quân tử biết thương con thú hoang trong bản tính của tôi, người mà hàng ngày bưng cho tôi một ly nước thật trong, cho nên tôi không thể nhúng vào ly một cái môi bẩn để uống. Lờ mờ, tôi cảm thấy anh đứng trên một nấc thang giá trị cao hơn tôi, tôi cảm thấy tay anh đưa ra nắm lấy tay tôi kéo lên cho bằng chỗ anh đứng. Tôi thấy hình như trong bản tính của tôi cũng có một năng lực nào đấy thúc đẩy tôi bước lên. Bước đó, tôi nghe rõ lần lần và rõ nhất hơn một năm sau.
Năm sau, chồng tôi được bổ nhiệm một chức vụ lớn trên cao nguyên để phát triển một khu dinh điền hoang sơ thành khu trù mật kiểu mẫu. Tôi chưa bao giờ sống xa thành phố, nhưng bản tính vốn thích thay đổi nên vui vẻ lên ở cao nguyên. Khung cảnh mới giúp tôi khám phá thêm con người của tôi: hóa ra tôi cũng có thể sống được với tĩnh lặng của thiên nhiên. Không phải chỉ sống, mà còn giao cảm nữa. Tôi có thể nói chuyện được với mặt trời, nó chào tôi rạng rỡ buổi sáng, nó im lặng huyền bí buổi chiều, nhắn tôi đừng mơ. Cả một thế giới xôn xao ngôn ngữ, gió trên cao, lá khô dưới đất, con hươu đùa nghịch, con khỉ đánh đu, con nai vểnh tai, con sơn dương đọ sừng, mây trôi giữa lòng suối... Tất cả đều nói cả đấy, và tất cả đều hiểu ngôn ngữ của nhau, hiểu nhau hơn người hiểu người, hơn người khác hiểu tôi. Thiên nhiên còn đồng cảm với tôi ở chỗ biết diện, biết làm đẹp, biết tô son, biết trăng gió, vuốt ve, hò hẹn, thì thầm, la hét, nhu mì, hung giữ, nổi loạn... Nó làm dáng trước mắt mọi người, hồn nhiên.
Chúng tôi được ở trong một biệt thự cạnh rừng hoang, xa khu dân cư chừng ba cây số. Chồng tôi bắt đầu lập chợ, mở đường, xây bệnh xá, dựng trạm thông tin. Anh say sưa làm việc và chắc say sưa nghĩ rằng người năng nổ làm việc như tôi cống hiến sôi nổi của mình suốt đời cũng không chán. Mà thật vậy, trong đầu tôi, cứ dự án này tiếp nối dự án kia, mọi người chạy theo sáng kiến của tôi hụt hơi, nhưng ai nấy đều hả hê thấy tương lai hiện lên trước mắt. Hoá ra đâu có phải chỉ trong trốn phồn hoa tôi mới là sao sáng? Tôi làm việc cũng giống như tôi vui chơi, không thấy quan trọng, làm việc như con bướm bay, đừng thấy nó nhởn nhơ mà tưởng cái vòi của nó không biết công phu tinh xảo, hoàn mỹ hoàn thiện.
Chỉ một lần tôi thấy có một cái gì quan trọng, không dám nhởn nhơ, lần đầu tiên tôi tiếp xúc với thế giới của tâm linh. Hôm ấy, gia đình của một người phu an táng một người quá cố. Quan tài vừa đặt vào lòng đất bỗng trong hàng thân nhân của người vừa mất có một người dõng dạc bước ra, đi như hệt người quá cố, làm cử chỉ y hệt, nói với giọng oang oang giống hệt: "Tao có giấu tiền dưới mái nhà, cạnh giàn bầu, chúng mày tới lấy mà tiêu". Nói xong ngã lăn xuống đất, hồi lâu mới dậy. Người nhà về lục soát mái nhà thì quả nhiên thấy tiền. Chuyện ấy đồn nhanh như gió thổi khắp quần chúng. Trạm thông tin tự động hội họp bàn tán xôn xao. Kết quả là dân chúng thỉnh nguyện xây một ngôi chùa. Chồng tôi rất ghét mê tín, nhưng đứng trước một hiện tượng mà toàn thể mọi người đều xác quyết là sự thật rành rành, anh phải nghe theo. Nhưng anh làm theo ý anh, không hẳn theo ý mọi người. Anh xây cạnh khu rừng hoang một ngôi chùa nhỏ nhưng rất mỹ thuật, và anh mời một ông sư danh tiếng mà anh quen, nhân tiện lên cao nguyên vừa dưỡng bệnh, vừa giáo hoá dân nghèo trong thời gian đầu. Anh muốn đem sinh hoạt văn hoá lên cao nguyên của anh cùng với sinh hoạt tín ngưỡng.
Sự có mặt của ngôi chùa làm thay đổi hẳn đời sống của chồng tôi và của cả tôi. Cho tới lúc đó tôi chưa hề biết chùa chiền, chuông mõ. Bỗng nhiên, gần gũi với thiên nhiên, nói chuyện với ông sư, tôi ngộ ra thơ thiền. Cùng với chồng, tôi biến ngôi chùa thành tụ điểm văn hoá thiền mà ảnh hưởng lan xa tới tận các đô thị chung quanh. Mỗi tháng một lần rồi hai lần, anh mời trí thức lên cao nguyên vừa nghỉ mát, vừa đọc sách, đàm đạo, đi dạo, trao đổi hiểu biết. Dần già, tiếng tăm của chúng tôi vang dội trên báo chí Sài Gòn, ngôi chùa nhỏ được thổi lên thành trung tâm sinh hoạt văn hoá mà nhà nước không bì kịp. Đến mức đó thì chúng tôi say sưa. Ý nghĩ xuất bản một tờ nguyệt san vọt ra trong đầu tôi.
Thưa ông mọi chuyện trên đời này đều tình cờ hay có sắp đặt cả? Tôi có bao giờ biết triết lý đâu, nhưng một tháng hai lần tham gia trò chuyện, tôi đâm ra tò mò về những câu hỏi siêu hình. Có bàn tay của ai chăng? Bản tính năng động và tự do, tôi không chấp nhận một cách giải thích dễ dãi và tiêu cực như thế về con người. Lúc nhỏ tôi thường lẩn thẩn nhìn mấy con kiến tha mồi: kiên nhẫn ngậm mồi trong miệng, vất vả khuân vác trên đường xa, lăng quăng chạy một mình như chẳng biết đi về đâu. Nhưng làm sao nó không biết? Trong đầu nó đã có sẵn địa chỉ của kho lương thực và bản đồ chỉ đường với đèn xanh đèn đỏ đầy đủ. Ta cũng vậy, trong ta có sẵn một lực thúc đẩy, lực ấy do ta tạo ra mà ta không biết, dẫn ta theo hướng mà tự ta nhắm đến nhưng không hay. Cả ta và cả cái lực ấy đều do nhân duyên mà thành ông ạ. Nhân duyên tạo ra ta, mà chính ta cũng tạo ra nhân duyên. Cái lực ấy do nhân duyên tạo ra, nhưng nhân duyên thay đổi thì cái lực ấy cũng không phải cứ thế mà nhắm mắt bay đi. Như mũi tên đã bắn ra thì không thể thay đổi đương hướng.
Vâng, tự tôi thay đổi nhân duyên ông ạ. Tôi lấy chồng tôi là nhân duyên. Tôi lên cao nguyên là nhân duyên. Ngôi chùa là nhân duyên. Tờ báo là nhân duyên. Tất cả đều có duyên có cớ, chẳng gì là tình cờ cả, tất cả là do tôi tạo ra, và cho đến lúc đó nhân lành nên duyên cũng lành. Nhưng trong cái lực nó thúc đẩy tôi đi như thế, có một cái gì đó không ổn ông ạ, như có một cái gì không ổn lúc trái mận nảy mầm khiến nó đang mượt mà xanh tốt bỗng úa héo, không chín được trên cành. Có con sâu nào đó đã chích một nọc độc vào trái cây lúc nó vừa ra nụ chăng? Có cái gì đó trong bản tánh của tôi khiến mũi tên đang bay như thế bỗng chệch hướng chăng? Tại tôi ông ạ, không tại ai cả. Một chút rơi rớt trong bản tánh của tôi đã làm tôi chệch đường ray.
Khi tôi đề nghị ra tờ nguyệt san, chồng tôi hưởng ứng ngay, như thử hai ý cùng vọt ra một lần. Anh còn nóng bỏng hơn cả tôi, vì đó là đam mê của anh. Cả ông sư, cả tập thể đều bắt tay ngay vào việc. Ban biên tập, bài vở, tất cả đều sẵn sàng, chỉ còn thiết kế tờ báo, chỉ còn thiếu người lo khâu thẩm mỹ. Dễ quá, tôi nói, tôi có anh bạn hoạ sĩ quen thân, một trong những người từng mê tôi, tôi chỉ cần gọi một tiếng là anh ấy từ trên cung trăng cũng lò mò xuống đất. Chồng tôi tán thành, anh ấy có bao giờ hẹp hòi đâu, và thế là anh bạn hoạ sĩ nhập bọn. Chúng tôi làm việc vui như hội, hăng như tướng sắp ra quân. Lần đầu trong đời, tôi có cảm tưởng như mình đang với lên một cái gì ở trên cao, tuồng như là lý tưởng, tuy tôi chẳng biết lý tưởng của tôi là gì. Chỉ biết tập thể làm mình vui, mình vui với tập thể, tất cả đều vui với một công việc mà ai cũng thấy là có ý nghĩa.
Mọi sự tốt đẹp như thế cho đến một hôm... Hôm ấy chủ nhật, buổi chiều mùa đông trời thấp xuống, lất phất mưa phùn. Họp xong mọi người ra về, ai cũng có xe, đi chung hoặc đi riêng, trừ anh hoạ sĩ xe đứng máy. Nhân tiện phải đưa một người ra nhà ga cách đó 10 cây số, chồng tôi đề nghị đón một anh thợ máy ở gần đấy, đưa về chùa để sửa xe. Mọi người đi cả, chùa vắng, anh bạn rủ tôi dạo chơi một vòng. Lúc ấy mưa vừa tạnh, mặt trời hé ra sau mây. Chùa không xa nhà tôi bao nhiêu, đều ở cạnh rừng hoang cả, vui chân chúng tôi đến nhà bao giờ không hay. Tôi mời anh bạn vào nhà. Trời lạnh chúng tôi đốt lửa sưởi. Tôi là đứa hay nói, nhưng ngồi trước lửa cháy đỏ rực, tôi có thể ngồi hoài, yên lặng hàng giờ, nghe than hồng lách tách nở, nghe cảm giác ấm áp len vào làn da. Tôi sẽ rất cám ơn bạn tôi nếu anh ấy cứ ngồi yên như thế với tôi, đừng nói gì, chỉ nhìn lửa. Nhưng anh ấy bỗng lên tiếng:
"Hương có nhớ lần đầu tôi gặp Hương không? Cũng trước lò sưởi như thế này..."
Dĩ nhiên là tôi nhớ. Tôi gặp anh ấy lần đầu trong một tiệc cưới trên xứ lạnh, và được mời ngủ lại đêm trong biệt thự sang trọng của cô dâu. Buổi tối, bốn năm người chúng tôi ngồi quanh lò sưởi, thích quá không ai chịu đi ngủ, thức đến khuya đàn hát văn nghệ. Anh ấy ngồi trong góc, hí hoáy vẽ, anh vẽ tôi. Khi anh đưa bức tranh chân dung cho tôi, tôi thấy mắt anh bối rối cảm động. Trong tranh, một thiếu nữ mơ màng vuốt mớ tóc dài buông xuống trước ngực. Ngực tôi đẹp tôi biết. Ai có mắt đều biết. Và tôi biết trọng tâm của bức tranh là cái đuôi tóc vừa chạm trên một chút đồi non.
Tôi không muốn trả lời anh ấy vì không muốn để kỷ niệm dẫn tôi vào quá khứ. Cái lò sưởi là nơi hẹn hò của hoài cảm, nên coi chừng nó ông ạ, vì ngồi nhìn than hồng cháy rực, người ta có vẻ đăm chiêu nhưng thực ra là chẳng nghĩ gì. Chẳng nghĩ gì nên kỷ niệm cứ tự nhiên đến, như than gặp gió thì tự nhiên cháy. Đấy, tôi chẳng nghĩ gì cả, nhưng anh ấy nhắc thì tôi nhớ bức chân dung đầu và những bức chân dung sau đó anh mang đến tặng tôi. Hơn hai chục bức rất đẹp, vẽ tôi hoặc vai trần, cổ trần hoặc tay trần với lên cao để hở một khoảng trắng dưới lưng, và bức nào cũng vờn chút ánh nắng trên ngực, nắng chiều, nắng sáng như nắng trên đồi, chính giữa đồi, một góc đồi, toàn trái đồi.
Tôi vui vẻ nhận tranh và sau đó có khoe tranh cho chồng tôi, khi đó chưa cưới nhau. Chồng tôi phớt tỉnh: "Nhìn cô người câm cũng biết nói huống hồ hoạ sĩ".
Tôi biết tôi đã để cho quá khứ dụ dỗ kéo đi, thủ phạm là cái lò sưởi và hơi ấm ôm lấy vai mình. Có một lúc, tôi nhớ tiếp, anh bạn hoạ sĩ tưởng tôi dễ dãi, hoặc tưởng tôi rộng rãi với nghệ thuật hoặc là anh ấy muốn tò mò thám hiểm vào bản tính của tôi, hoặc là anh ấy đã hút thuốc phiện với nhan sắc của tôi, anh ấy khẩn cầu, nài nỉ được vẽ tôi khoả thân. Tôi từ chối, nhưng không hiểu sao sau đó, tôi có cảm giác hơi tiếc. Hơi động lòng như thử mình đã làm tổn thương một tài năng. Cái cảm giác hơi tiếc đó kéo dài mồi lần tôi gặp anh khiến tôi càng tỏ vẻ là thân với anh hơn thực lòng, như thử để chuộc lại cái lỗi đã nghiêm khắc với anh. Sau này nghĩ lại, có lẽ khi tôi đề nghị mời anh lên cao nguyên với chúng tôi, một phần cũng là cái cảm giác hơi tiếc ấy trong vô thức. Đám cưới chúng tôi anh không đến, tôi hiểu.
Tôi đang mơ màng trong quá khứ như thế thì nghe giọng anh nói:
- Sau này, khi Hương đi rồi, tôi có thêm được nhiều bức nữa, nhưng khi gặp lại Hương ở đây, tôi chỉ muốn xé đi, vì không diễn tả được Hương như tôi thấy. Nơi Hương vừa có một cái gì dữ tợn, vừa có một cái gì dịu dàng, mát như suối mà cũng nóng như lửa.
Tôi bỗng thấy tôi nghiêm khắc:
-Lửa đang tàn, củi đã cháy hết. Anh ra ngoài hiên lấy thêm củi, chọn thanh nào khô, vì hôm qua trời mưa, củi ướt mem.
Với củi ướt, chúng tôi lúi húi giữ cho lửa khỏi tắt, quạt than hồng, gạt bớt tro, mồi cho củi bắt lửa, vô tình ngồi gần nhau. Khá cực nhọc lửa mới cháy. Mặt tôi hồng. Tôi mở một nút áo trên cổ để bớt nóng. "Ở kìa, tóc của Hương đầy cả tro", anh bạn nói thế và lấy xuống một sợi than trên tóc tôi. Anh ấy bảo "chưa hết, đây này, còn bốn năm sợi nữa". Anh vuốt tóc tôi từ trên đầu xuống vai, ngừng trên cổ, rồi vuốt nhẹ vai tôi, giọng anh như lạc đi : "tóc rối của Hương dính đầy cả vai". Anh lấy tóc xuống, đưa tôi xem, tôi cuốn chúng lại, định quăng vào lửa, nhưng không hiểu sao, tự nhiên ông ạ, tự nhiên như tôi vẫn là tôi trước đây, tự nhiên như khi tôi uống ly rượu từ tay người khác, ăn nửa trái đào từ miệng người kia, tự nhiên tôi nhét chùm tóc vào túi áo của anh. Anh cầm lấy tay tôi, củi tươi trong lò nổ lên một tiếng, bắn than nóng vào mặt tôi, tôi nghiêng người theo đà kéo của anh, ngã vào lòng anh.
Thưa ông, ông là nhà giáo, ông là nhà văn. Là nhà giáo ông có thể nghiêm khắc. Nhưng là nhà văn, chắc ông dễ cảm thông với hoàn cảnh. Dù sao, xin ông cứ nghiêm khắc trả lời tôi: Tôi có lỗi hay không? Tôi cũng muốn hỏi ngọn lửa: Giá như nó không bắn than vào mặt tôi lúc đó, tôi có rút tay tôi ra khỏi tay anh ấy không? Tôi lại xin ông cắt nghĩa cho tôi: Ma quỷ nào xúi tôi nhét tóc vào túi áo? Cuộc đời của tôi đã bước qua một ngã rẽ, lên cao nguyên này tưởng để với được trời, cái nghiệp lực gì xô tôi xuống đất? Tự tôi hay tự cái lực ấy? Hay cái lực ấy cũng là tôi?
Tôi ngã nhào, ông ạ. Không phải vào vòng tay của anh bạn đâu. Vào địa ngục. Bởi vì, đúng cái lúc ấy, đúng lúc anh ấy định hôn tôi, thì cửa bật ra, và chồng tôi bước vào nhà. Anh đứng sững một giây, rồi quay gót. Tôi nghe tiếng chân anh chay, rồi tiếng xe rú máy ngoài cổng. Anh bạn tôi nhào ra cửa, chạy theo, hét lên như điên. Tiếng hét xa dần cùng với tiếng xe mất hút. Gió bên ngoài thổi bật hai cánh cửa, mưa lất phất đâu từ trên cao. Đêm đen nghịt. Bỗng một tiếng súng nổ. Núi rừng âm vang theo một tiếng lạc lõng. Rồi im.
***
Thưa ông, tôi thức suốt đêm để viết thư này, định ngưng ở đây, chờ câu trả lời của ông rồi mới viết tiếp để hỏi ông một câu thứ hai. Nhưng, nghĩ đi nghĩ lại, câu hỏi thứ hai lại dính mắc với câu hỏi này, cho nên tôi phải kể tiếp cho tròn câu chuyện.
Câu chuyện tiếp tục vào sáng hôm sau, tôi đang ngủ vùi - vì uống thuốc ngủ thì cảnh sát ầm ầm đến đập cửa nhà tôi để báo tin chồng tôi vừa bị tai nạn tối hôm qua và đã mất. Anh lái xe trên đường đèo, vấp đá từ trên núi rơi xuống, chết dưới đèo. Đến nhà thương nhận xác chồng, tôi được biết thêm anh bạn tôi bị một viên đạn từ điếm canh bắt chết trong rừng, xác cũng quàn tại nhà thương. Tôi bất tỉnh.
Tôi không thể nói hết ở đây nỗi đau đớn điên cuồng của tôi khi tỉnh lại. Tôi gào thét, vùng vẫy, xô ngã cô y tá suýt nữa thì nhảy qua cửa sổ. Ba bốn người phải đè tôi xuống giường, chích một mũi thuốc an thần, tôi lịm trong giấc ngủ. Thức dậy, tôi ngơ ngác, không biết bên ngoài nắng trưa hay nắng chiều. Tôi nằm yên một lát, đầu nặng như có đá. Bỗng có ai nói chuyện từ ngoài hành lang vẳng lại, chắc là hai cô y tá săn sóc tôi khi nãy. Một cô nói: "Xác ông ấy còn nằm dưới kia, cảnh sát đã biết tung tích. Ông ấy là hoạ sĩ. Họ đã điện thoại cho gia đình". Cô kia hỏi:" Ông ấy lên đây làm gi? Sao lại chạy vô rừng giữa đêm khuya?" Cô trước trả lời:" Cảnh sát đang điều tra dữ lắm. Hai cái chết xảy ra trong một đêm, hầu như cùng một lúc. Hai người lại quen thân nhau, cảnh sát biết họ có làm việc chung với nhau, thường hội họp trong chùa." Cô sau tò mò: "Sao chị biết"? Tiếng trả lời bỗng nhỏ lại nhưng vẫn nghe được: "Nhà em đi chụp ảnh cho cảnh sát. Lạ lắm chị ạ, lục soát trong người ông hoạ sĩ, cảnh sát thấy có tóc đàn bà trong túi áo."
Tôi nhảy ra khỏi giường, tỉnh táo như chưa hề gặp biến cố. Đầu óc sáng quắc như mặt trời chiếu đến tận từng ngọn cỏ. Trong một giây tôi thấy hết vấn đề: Cảnh sát sẽ lên chùa, sẽ biết chúng tôi vừa hội họp xong, bao nhiêu người, đàn bà là ai, chỉ một mình tôi. Họ sẽ biết xe anh bạn bị hỏng, biết chồng tôi đưa ai ra nhà ga, đoán chồng tôi không tìm được thợ máy, đã trở về chùa, không thấy anh hoạ sĩ và tôi, hỏi ông sư, và ông sư tất phải trả lời, trả lời với chồng tôi cũng như sẽ trả lời với cảnh sát: Hai người đã đi bộ về nhà. Trẻ con giải đáp bài toán cũng ra: Tôi là thủ phạm gián tiếp của hai cái chết.
Tôi vọt ra khỏi phòng, chạy ra khỏi nhà thương, hai ba người đuổi theo không kịp. Phóng một hơi lên chùa, tôi thuật lại mọi chuyện với ông sư, trung thực, không dấu diếm một chi tiết nào. Chưa bao giờ tôi biết quỳ trong đời, bỗng nhiên tôi quỳ xuống nắm chân ông sư, xin ông khai với cảnh sát rằng ông đã đưa tôi về nhà trong khi anh bạn hoạ sĩ ở lại chùa chờ chồng tôi đến đón.
Hôm sau, cảnh sát thẩm vấn ông sư và tôi. Báo chí trên tỉnh làm um lên bí mật của mấy sợi tóc, nhất là tóc từ đâu trong chùa. May cho tôi là cảnh sát trên cao nguyên vừa mới thành lập, chưa được huấn luyện về kiến thức khoa học, tóc của tôi hay tóc của ai thì cũng là tóc đàn bà cả, mà tôi thì, theo lời khai của ông sư, không rời khỏi chồng tôi suốt hai ngày hội họp. Không ai dám nghi ngờ quả quyết của ông sư mà mọi người kính trọng. Trước sau như một, ông khai, nét mặt điềm nhiên: Tôi đưa bà về nhà vì từ lâu bà thích hỏi chuyện đạo mỗi khi đi dạo bộ với tôi. trở về lại chùa, tôi không thấy ông hoạ sĩ, nghĩ rằng ông đi loanh quanh đâu đó. Bên kia chùa là khu rừng hoang dẫn vào khu rừng cấm của quân đội, bí mật quân sự gì đó không ai rõ. Trong rừng, trời sập tối rất nhanh, tắt nắng là tối mịt, chắc ông ấy tìm đường không ra. Tôi đang lo, loay hoay không biêt làm thế nào thì nghe súng nổ, đoán là chuyện chẳng lành..."
Tóc đàn bà là chuyện hấp dẫn của các ký giả nhưng chẳng ai cắt nghĩa được liên hệ gì giữa mấy sợi tóc ấy với hai cái chết cùng một đêm nhưng ở hai nơi khác nhau, một người bị tai nạn do tự mình gây ra, một người bị lính canh bắn chết, tội phạm không có, tính đồng thời của hai sự việc chỉ là tình cờ. Kết luận như vậy của cảnh sát hợp lý quá, chỉ là tình cờ thôi, bao nhiêu sự việc trên đời chẳng phải là tình cờ cả hai sao? Ông ạ, từ đó đến nay tôi dị ứng với hai chữ tình cờ, sợ cái thuyết tình cờ như sợ nghe súng nổ, có cái gì xảy ra mà chẳng do nhân do duyên?
Tôi bỏ cao nguyên về Sài Gòn rồi bỏ Sài Gòn ra nước ngoài, đi để quên. Nhưng nào quên được! Đi đâu câu hỏi ấy vẫn theo đuổi tôi. Có khi tôi buộc tội tôi. có khi tôi bênh tôi. Tôi đâu đã làm gì đến nỗi. Dù anh bạn có hôn tôi, tôi nghĩ tôi vẫn có thể tự chủ sau đó, như tôi đã từng tự chủ trong kinh nghiệm đàn bà của tôi. Biết đâu tôi sẽ nghiêm khắc với anh như tôi đã nghiêm khắc? Tôi nghĩ tôi vô tội. Nhưng tôi lại không chắc. Muốn vũng chắc, tôi phải dựa trên cái nhìn của ông sư. Chắc chắn là ông thương tôi cho nên ông mới nói dối với cảnh sát. Ông thương tôi khi tôi quỳ xuống. Nhưng ông thương tôi vì tôi là người đang đau khổ hay vì tôi vô tội?
Đó là câu hỏi thứ hai ám ảnh tôi hoài. Ông sư đã nói dối hay nói thật với lòng ông? Nếu ông nói thật với lòng ông, tức là đối với ông, tôi là trong trắng, tôi là vô tội. Nếu ông nói dối với lòng ông, chỉ cốt để cho tôi khỏi tội thôi, thì đối với ông tôi là người có lỗi. Suốt năm trời tôi cứ loay hoay muốn biết ông sư nói thật hay nói dối là vì thế. Chỉ có ông ấy phán đoán được tôi để giúp tôi biết tôi, tôi thảnh thơi với lương tâm. Loay hoay tôi hỏi một người bạn gái: "Ông sư có nói dối không?" Người bạn trả lời: "Trên nguyên tắc, không, vì nói dối là phạm giới thứ tư trong năm giới, không sát sanh, không trộm cắp, không nói dối, không tà dâm". Tôi tìm hiểu trong sách Phật thế nào là nói dối thì các định nghĩa từ đơn giản nhất đến thâm sâu nhất đều không thích ứng trọn vẹn với trường hợp của tôi. Tôi tự hỏi: Hay là ông sư đã nói dối, vì một trường hợp ngoại lệ? Nguyên tác nào khi áp dụng lại chẳng có ngoại lệ? Tôi lại tìm trong sách Phật và dường như lờ mờ hiểu rằng có khi vì lòng từ bi mà phải nói dối. Như vậy, lòng thương xót có thể là một ngoại lệ chăng? Thế nhưng ngoại lệ này vẫn chưa giải quyết được u uẩn trong lòng tôi.
Tôi ví dụ như thế này để ông hiểu rõ hơn lòng tôi: ví dụ một tên sát nhân bị cảnh sát truy nã, chui vào trốn trong chùa của ông sư. Cảnh sát xông ào hỏi: Có ai trốn trong chùa không? Có thể ông sư vì lòng thương xót mà nói "Không" bây giờ, lại ví dụ người trốn trong chùa là một người làm cách mạng, bị cảnh sát của phe độc tài truy nã, chắc chắn câu trả lời của ông sư vẫn là "Không". Đều là "không" cả, đều là thương xót cả, nhưng giữa hai trường hợp vẫn có cái khác nhau chứ. Cái ấy là nhân cách của người trốn. Với tên sát nhân, ông sư biết ông nói dối. Với người cách mạng, ông biết ông phải bảo vệ, ông có bổn phận bảo vệ, ông phải nói dối để bảo vệ, ông thành thật với lòng ông. Tôi cho như vậy là ông không nói dối.
Thưa ông, tôi không phải cao sang như người làm cách mạng, nhưng tôi đâu có phải là người sát nhân? Vậy thì, khi ông sư khai dối với cảnh sát, ông nghĩ gì về nhân cách của tôi? Chẳng lẽ ông chỉ thương xót tôi như một tên sát nhân biết hối lỗi, nếu vậy thì dù biết hối lỗi, tôi vẫn phải tự nghĩ về tôi như một tên sát nhân. Suốt cả năm trời, tôi ăn ngủ không yên với cái lý luận ấy. Tôi chỉ có thể nhẹ lòng nếu ai đó quả quyết với tôi: Không, ông sư không nói dối.
Thế rồi, bỗng nhiên ngừơi nhà của tôi ở trong nước gửi qua cho tôi một bài viết của ông sư đăng trong báo. Ông đã giã từ cao nguyên ngay sau khi chồng tôi mất, về Sài Gòn nhận làm viện chủ một thiền viện danh tiếng. Bài báo là bài viết đầu tiên của ông sau khi rời cao nguyên. Đọc nhan đề, tôi đã hoảng kinh: "Nói dối". Ông viết: "Có những trường hợp buộc ta phải nói dối vì thương xót, vì lịch sự, vì để cứu một mạng người, hoặc để tránh một hậu quả xấu hơn. Ông bắt đầu như vậy và tiếp tục bác bỏ một luân lý bất di bất dịch, thay thế bằng một thứ đạo đức mềm dẻo, uyển chuyển, thích ứng với nhiều hoàn cảnh khác nhau, giải quyết những vấn đề tế nhị đặt ra cho lương tâm trong những trường hợp bi đát. Tôi tưởng ông sư của tôi muốn biện hộ cho thái độ của ông. Nhất là khi ông quả quyết, nếu nguyên tắc "không nói dối" được áp dụng một cách tuyệt đối, xã hội không thể tồn tại được.
Nhưng ông sư của tôi bắt đầu như vậy để kết thúc với những nguyên tắc cứng rắn. Nghe mà khiếp: Bổn phận là bổn phận, là phải tuân thủ tuyệt đối, vô điều kiện, trong moi trường hợp, không có ngoại lệ, vì đó là luật đạo đức do chính lí trí của ta đặt ra. Luật đạo đức là luật thép, đã có sẵn trong ta, có từ trước, nghĩa là trước khi một biến cố xảy ra và độc lập với mọi sự kiện. Vì bắt nguồn từ lý trí, và vì ai cũng có lý trí, bổn phận đạo đức là chung cho tất cả mọi người, không trừ một ai, không được áp dụng tuỳ theo hoàn cảnh, không được diễn dịch bằng cách viện cớ lương tâm.
Câu viết cuối cùng làm tim tôi đập loạn xạ. Nói dối với người ngoài, ta trở thành kẻ đáng khinh trước mắt của họ. Nói dối với chính ta lại còn tệ hại hơn, vì ta trở thành kẻ đáng khinh trước mắt của chính ta, ta vi phạm chính danh dự của loài người qua con người của ta. Nói dối là từ bỏ, là phủ nhận danh dự làm người.
Thưa ông, bài viết làm tôi thao thức suốt đêm. Nếu ông là người chủ nhà đang dấu một người bạn thân bị một thằng sát nhân rượt theo, chẳng nhẽ ông nói thật với tên này bạn tôi đang trốn ở đây để tuân thủ nguyên tắc không nói dối? Làm sao lý luận thông suốt được khi bổn phận này trái ngược với bổn phận kia? Phải chăng, trong những trường hợp bi đát ấy, chỉ còn ánh sáng của lương tâm dẫn dắt mà thôi? Ánh sáng đó sáng lên trong con mắt, bởi vì con mắt là nơi trú ẩn của mọi tình cảm, buồn, giận, thương, ghét, hối hận, thành thật, dối trá. Ông ạ, tôi đã thấy ánh sáng đó trong mắt ông sư khi khai báo với cảnh sát, ánh sáng đó không lừa tôi được, nó như một ngọn nến thôi nhưng nó soi sáng sự thật trong lòng ông sư, ông nói sự thật như ông nghĩ, sự thật đó là: Tôi vô tội.
Nhưng tại sao ông lại đem bài viết ra làm khổ tôi?
***
Thưa bà, bà thử tưởng tượng một lễ quy y trong chùa. Đơn giản lắm, nhưng trang nghiêm vô cùng. Ông thầy đọc mỗi giới và người quy y lặp lại long trọng từng giới. Ông thầy đọc: "Con nguyện giữ giới không nói dối". Bà hãy thử tưởng tượng tâm trạng của ông thầy khi đọc câu đó trước một người đang quỳ. Ông đang thay mặt Phật để nói một nguyên tắc. Nguyên tắc ấy, ông bảo người khác phải giữ. Chẳng lẽ chính ông không giữ? Lúc ấy, lúc quy y ấy ngoại lệ không được chen vào. Bởi vì, từ nguyên tắc qua ngoại lệ, khoảng cách không lớn hơn sợi tóc. Bước qua biên giới mong manh ấy, ai biết ngoại lệ sẽ dẫn mình đến đâu trên cái lưỡi của mình?
Chắc bà cũng biết: Bài viết của ông sư là đúc kết tranh luận nổi tiếng giữa hai triết gia là Benjamin Constant và Kant. Đạo đức của Kant cứng rắn thật. Bà có thể trách ông thuần lý trí, thiếu một giọt nước mát của trái tim. Nhưng, thưa bà, cũng phải có một người như ông ấy để luôn luôn nhắc nhở vai trò tối thượng của nguyên tắc. Ông sư của bà là một người tuyệt vời. Ông biết ông đã bước qua bên kia biên giới của sợi tóc khi khai với cảnh sát, ông phải bước về với bài viết của ông để tự nhắc nhở. Trong cả hai bước, ông đều ý thức đúng đắn về thái độ của ông, không chấp nhặt nguyên tắc nhưng nguyên tắc là tối thượng.
Chuyện bài viết là chuyện của ông sư, bà không cần vương vấn làm gì cho nhọc lòng. Bà chỉ cần biết: Ông sư bước qua bên kia biên giới của sọi tóc vì bà là người trong trắng. Bà là người trong trắng, trước cũng như sau khi củi tươi bắn than hồng vào mặt. Than hồng ấy cũng trong trắng vì không có tình ý gì. Như bà vậy. Ông sư bước qua sợi tóc của ông vì bà chưa bước qua sợi tóc của bà. _HẾT_
-------------
Giáo sư Cao Huy Thuần dạy đại học Pháp, một cây bút quen thuộc trong cộng đồng tiếng Việt, đặc biệt gần với những ai có quan hệ trực tiếp hoặc có mối quan tâm với đạo Phật và văn hóa Phật giáo.
Câu chuyện mở đầu, “Sợi tóc”, phản phất chất li kỳ trinh thám khơi gợi nỗi dằn vặt rắc rối, thế nào là nói dối? Một nhà sư khai dối với cảnh sát để cứu giúp một con người trong trắng vô tội tránh khỏi vụ điều tra án mạng. “Có những trường hợp buột ta phải nói dối vì thương xót, vì lịch sự để cứu một mạng người, hoặc để tránh một hậu quả xấu hơn”. “Nếu nguyên tắc ‘không nói dối’ được áp dụng một cách tuyệt đối, xã hội không thể tồn tại”. “Tính thiện nằm trong cái đẹp và cái thật”. Nhưng ‘không nói dối’ lại nằm trong nguyên tắc ngũ giới của nhà Phật. “Nguyên tắc là tối thượng”. Nhà sư thành thật với lòng, vậy có phải là không nói dối?...NGUYỄN DUY 2012
ĐỌC CHUYỆN TRÒ CỦA CAO HUY THUẦN
Cuốn sách có một cấu trúc làm ta nhìn ra Cao Huy Thuần: bốn thứ chuyện trên đời mà anh không chạy đâu thoát, đó là: Tình yêu, Văn hoá, Giáo dục và Phật giáo.
Sợi tóc, một chuyện tình hấp dẫn như một chuyện phim trinh thám, hai người đàn ông, một người đàn bà, một ông sư, một tiếng súng nổ, hai cái chết, mấy sợi tóc... Nhà sư vì muốn cứu một người đàn bà đẹp mà phải nói dối và dằn vặt mãi về sự nói dối đó. Dằn vặt là phải vì xưa nay “nói dối cũng có ba bảy đường” nhưng với nhà sư thì khác. Thế nhưng, “sợi tóc vương chân người” rồi! Ánh mắt nhà sư hôm đó làm sao giấu được, cho nên nhà sư “xuống núi” là phải thôi. “Nói dối với người ngoài, ta trở thành kẻ đáng khinh trước mắt của họ. Nói dối với chính ta lại còn tệ hại hơn vì ta trở thành đáng khinh trước mắt của chính ta...” (tr 34).
ĐỖ HỒNG NGỌC (Nguồn: SGTT)
(Chuyện trò, tạp văn của Cao Huy Thuần, NXB Trẻ phát hành tháng 11.2012)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét